Tác giả: Sen Nguyễn

  • Ô nhiễm theo dòng Mê Kông và hành trình tìm miền đất hứa

    Ô nhiễm theo dòng Mê Kông và hành trình tìm miền đất hứa

    Chính quyền địa phương lo ngại về tương lai của đồng bằng sông Cửu Long khi các đập thượng nguồn sông Mê Kông đe dọa sinh kế của người dân.

    Sự màu mỡ của đồng bằng bị đe dọa vì ô nhiễm và các nhân tố khác. Liệu nông nghiệp bền vững, năng lượng tái tạo và kế hoạch phục hồi tổng thể có thể hồi sinh vùng đất này?

    Một cánh đồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long sản xuất gần 50% sản lượng gạo, tương đương 43 triệu tấn vào năm 2019. Ảnh: Shutterstock
    Một cánh đồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long sản xuất gần 50% sản lượng gạo, tương đương 43 triệu tấn vào năm 2019. Ảnh: Shutterstock

    Ba năm trước, tình trạng thiếu việc làm đã khiến anh Trương Bá Long, 33 tuổi, chuyển đến trung tâm kinh tế của Việt Nam là Thành phố Hồ Chí Minh.

    “Sài Gòn là miền đất hứa cho những người từ đồng bằng,” Long cho biết. Anh xuất thân là con nhà buôn bán và thợ làm tóc ở Kiên Giang, đi học bằng kỹ sư điện tại một trường đại học ở Sài Gòn và hiện làm thợ điện cho một chuỗi nhà hàng. Anh cho biết khoảng 80% những người bạn lớn lên cùng anh lớn lên cũng đã di cư vào Sài Gòn.

    “Nơi mình ở, người dân làm ruộng quanh năm và không có nhiều việc làm”

    Cũng giống như Long, khoảng 1,1 triệu người đã rời bỏ Đồng bằng sông Cửu Long rộng lớn trong thập kỷ vừa qua để tìm kiếm cơ hội khắp Việt Nam hoặc ở nước ngoài; do hậu quả của ô nhiễm môi trường, quy hoạch kém, các đập thượng nguồn đe dọa sinh kế của người dân và sức sống của vùng Đồng bằng.

    Một báo cáo được công bố gần đây của các chuyên gia kinh tế và chính sách hàng đầu tại Việt Nam được tài trợ bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy rằng vùng đồng bằng có tỷ lệ di cư cao nhất và nhập cư thấp nhất ở cả nước. Đóng góp của vùng cho GDP của Việt Nam cũng đã giảm mạnh trong ba thập kỷ qua – từ khoảng 27% vào năm 1990 xuống 17,7% vào năm 2019. Dân số của vùng đồng bằng, bao gồm 13 trong số 63 tỉnh và thành phố của Việt Nam, hiện là 17,1 triệu.

    “Hệ quả tất yếu của tình trạng này là thiếu hụt lao động (ở đồng bằng) ngày càng phổ biến, đồng thời dân số già đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng”, báo cáo cho biết. Các tác giả bao gồm các giáo sư từ Đại học Fulbright Việt Nam và Đại học Cần Thơ, các nhà quản lý doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu tại Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp.

    Báo cáo cho biết, việc thiếu lao động có kỹ năng cộng với việc chuyển đổi chậm qua các ngành có tính năng suất cao hơn khiến nền kinh tế của vùng đồng bằng bị bỏ lại phía sau.

    Bài toán lương thực

    Cuối thế kỷ 20, Việt Nam muốn cạnh tranh với Thái Lan về xuất khẩu gạo, vì vậy chính phủ và nông dân xây dựng hệ thống đê kín xung quanh đất nông nghiệp, ngăn chặn mùa nước nổi vào ruộng lúa và trồng thêm vụ thứ ba mỗi năm thay vì chỉ hai vụ như trước. Thu hoạch lúa gạo tăng từ 4 triệu tấn năm 1975 lên hơn 20,7 triệu vào năm 2010. Việt Nam trở thành nước sản xuất gạo lớn thứ ba trên thế giới, sau Ấn Độ và Thái Lan.

    Đến năm 2019, sản lượng gạo của Việt Nam đã tăng lên hơn 43 triệu tấn, trong đó sản lượng của đồng bằng chiếm 50%. Khu vực này cũng là vựa trái cây của cả nước khi đóng góp tới 60% sản lượng, và 70% sản phẩm nuôi trồng thủy sản.

    Nhưng cái giá phải trả cho những thành tựu này là sự phì nhiêu của vùng đồng bằng. Trong các khu vực đê bao khép kín, mùa nước nổi – cần thiết để bồi đắp phù sa cho ruộng lúa và rửa trôi các sunphat có tính axit và các chất độc hại khác đi – không còn diễn ra. Và, với ba vụ lúa được trồng mỗi năm, đất không có đủ thời gian để phục hồi độ phì nhiêu tự nhiên.

    Ngoài ra, tình trạng lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật đang diễn ra tràn lan ở Đồng bằng sông Cửu Long, theo báo cáo năm 2017 của Ngân hàng Thế giới về ô nhiễm nông nghiệp ở vùng này. Các công trình đập được xây để ngăn mặn và trữ nước ngọt ở sông Mê Kông cũng đã dẫn đến ô nhiễm nước gia tăng do chất thải tích tụ, theo một nghiên cứu năm 2018 của Đại học Cần Thơ.

    Bài toán lương thực
    Bài toán lương thực

    Việc khai thác cát bất hợp pháp ở đồng bằng – được sử dụng để làm bê tông và nhựa đường – cũng đã xuất hiện tràn lan. Marc Goichot, người lãnh đạo Sáng kiến ​​Nước ngọt của WWF ở sông Mekong, cho biết tổ chức đã và đang làm việc với các đối tác Việt Nam để thúc đẩy sản xuất cát bền vững ở đồng bằng, cân bằng các vấn đề môi trường với nhu cầu gia tăng từ lĩnh vực xây dựng của Việt Nam.

    “Việt Nam cần một giải pháp thay thế cho cát khai thác từ đồng bằng. Khi bạn lấy cát ở Đồng bằng sông Cửu Long, có người ven biển mất nhà”. Goichot cho biết, đề cập đến sự sạt lở đất do khai thác cát gây ra.

    Ở vùng châu thổ, nơi những ngôi nhà một hoặc hai tầng nép mình bên những con kênh, văn hóa sông nước là đặc trưng rất rõ nét. Tuy nhiên, cư dân sinh sống tại nơi đây đối mặt với nguy cơ tiềm ẩn mất an toàn do sạt lở bờ sông bởi khai thác cát, xâm nhập mặn và các đập thủy điện ở thượng nguồn. Các hoạt động nhân tạo này có tác động vượt xa biến đổi khí hậu và gây ra các mối đe dọa lớn hơn trong ngắn hạn trong khi làm trầm trọng thêm các tác động của biến đổi khí hậu trung và dài hạn, theo nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí khoa học Nature vào năm 2019.

    Tiến sĩ Trần Thị Phụng Hà, giáo sư xã hội học tại Đại học Cần Thơ, cho rằng khu vực cần có kế hoạch cơ sở hạ tầng tốt hơn. “Đầu tư vào các chương trình phát triển ở vùng đồng bằng lẽ ra phải được thực hiện 10 năm trước”, cô nói thêm rằng các người dân ở khu vực sẽ tiếp tục cố gắng tìm kiếm việc làm ở các khu công nghiệp ở miền Nam, vì khó tìm được việc làm được trả lương cao hơn ở vùng đồng bằng.

    Thiệt hại kinh tế

    Nhưng việc thiếu quy hoạch cơ sở hạ tầng không phải là điều duy nhất kìm hãm sự tăng trưởng. Trong nhiều năm, 11 đập thủy điện công suất lớn như thác nước do Trung Quốc xây dựng dọc theo thượng nguồn dòng Mê Kông tại khu vực nước họ đã làm gián đoạn dòng chảy và mực nước sông. Theo một báo cáo của Eyes on Earth, một công ty nghiên cứu và tư vấn của Hoa Kỳ tập trung vào các vấn đề về nước, vào năm 2019, các phần của Thái Lan, Campuchia, Lào và Đồng bằng sông Cửu Long bị thiếu nước nghiêm trọng vì những hạn chế dòng nước do cách quản lý đập ở thượng nguồn.

    Tại một thời điểm, trung bình, con sông thấp hơn tự nhiên khoảng 5 mét, trong khi khu vực thượng nguồn của Trung Quốc nhận được lượng mưa trên mức trung bình trong hầu hết cả năm. Năm 2020, Đồng bằng sông Cửu Long hứng chịu đợt hạn hán lịch sử và xâm nhập mặn kỷ lục, mà các chuyên gia cho rằng là do giảm lượng mưa do hiện tượng El Nino và giảm lượng phù sa do các đập của Trung Quốc gây ra. Theo quy luật tự nhiên của sông Mekong, nước ở thượng nguồn đưa phù sa xuống làm màu mỡ cho các vùng đất hạ lưu.

    Tháng trước, Thái Lan đe dọa sẽ hủy kế hoạch cho một công ty Trung Quốc phát triển đập trên sông Mekong ở nước láng giềng Lào, với lý do lo ngại về tiềm năng tác động môi trường và sự gián đoạn của dòng chảy.

    Mặc dù các đập lớn do Trung Quốc điều hành được coi là nguyên nhân chính phá hủy sức sống của sông Mekong mà sinh kế của 60 triệu người đang hàng ngày phụ thuộc, 118 đập thủy điện khác dọc theo bờ sông Mekong – khoảng một nửa trong số này nằm ở Lào (theo Cơ quan Theo dõi Cơ sở hạ tầng Mekong do Hoa Kỳ tài trợ) có thể gây ra nhiều thiệt hại.

    Thiệt hại kinh tế
    Thiệt hại kinh tế

    Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các chi phí kinh tế và sinh thái đi kèm với thủy điện trên sông Mekong và những con đập thượng nguồn sẽ đe dọa quần thể cá và phá vỡ thủy văn sông tự nhiên.

    Brian Eyler là giám đốc chương trình Đông Nam Á tại Trung tâm Stimson, tổ chức tư vấn có trụ sở tại Washington và là tác giả của “Những ngày cuối của dòng MeKong hùng vỹ”. Ông cho biết sự thất bại trong việc bảo vệ Đồng bằng sông Cửu Long không thể hoàn toàn là do Trung Quốc.

    “Mối đe dọa của bộ ba tác nhân: đập thuỷ điện, quy hoạch địa phương không bền vững và biến đổi khí hậu đứng sau tình trạng di cư chưa từng có tiền lệ tại nơi đây” .

    Cuối năm 2017, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu các nhân tố như hệ thống đập ở thượng nguồn và việc gia tăng các hoạt động sản xuất trong nước cũng như biến đổi khí hậu đã làm tổn hại vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Chính Phủ thông qua Nghị quyết 120 về Phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu, giao các bộ và chính quyền địa phương thực hiện một số nhiệm vụ trong theo đuổi mục tiêu.

    Ông Lê Hoàng Thanh, một nông dân sống ở ngoại ô thành phố Cần Thơ, đang cố gắng nâng cao nhận thức của các cộng đồng địa phương về việc tự cung tự cấp lương thực trước vô vàn thách thức.

    Được biết đến với cái tên chú Hai Thanh, người đàn ông 72 tuổi dạy người dân địa phương về nuôi trồng đa canh tức là nuôi trồng các loại cây trồng hoặc vật nuôi khác nhau trên một không gian cùng một lúc. Ông cho biết ông đã học hỏi từ các nhà nghiên cứu của Đại học Cần Thơ và sau đó sửa đổi cho phù hợp với địa phương.

    Trên mảnh đất rộng nửa ha của chú Hai Thanh, từng nhánh mít, sầu riêng, xoài và những cây ăn quả khác mà ông trồng đang trổ chồi mới. Cách đó vài bước là âm thanh nhộn nhịp của hàng trăm con gà. Ông không sử dụng thuốc trừ sâu hoặc phân bón trên cây trồng, mô hình của ông là một dẫn chứng tiêu biểu của sự hài hòa các nhân tố khi nuôi trồng

    Hai cái ao của ông đã chứng thực điều này. Chúng được bao phủ bởi bèo, nguồn thức ăn tối ưu cho ốc ông đang nuôi để tạo thành một vòng tròn thức ăn hữu cơ. Trong khi nhiều nông dân ở vùng đồng bằng thường có thu nhập vài tháng một lần, Thanh bán ốc cho các nhà hàng địa phương, kiếm được 8 triệu đồng một tháng chỉ từ hoạt động này – khoảng gấp đôi mức lương trung bình hàng tháng của một người làm công tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    Nông dân Lê Hoàng Thanh khoe những con ốc ông nuôi trong trang trại ở TP Cần Thơ. Ảnh: Sen Nguyễn
    Nông dân Lê Hoàng Thanh khoe những con ốc ông nuôi trong trang trại ở TP Cần Thơ. Ảnh: Sen Nguyễn

    Ông nói: “Người dân vùng đồng bằng được thiên nhiên ưu đãi rất nhiều. "Họ trồng cây thì sinh hoa kết trái. Họ thả cá vô ao thì nó lớn”. Nhưng sự trù phú về tự nhiên của vùng châu thổ đã mất dần vì ô nhiễm, biến đổi khí hậu và các vấn đề khác, những vấn đề mà người nông dân chưa nghĩ đến. Việc áp dụng công nghệ mới cũng khó khăn vì họ phụ thuộc vào thói quen cũ và một phần vì thiếu tài chính.

    Các chuyên gia tại Đại học Fulbright Việt Nam và Đại học Cần Thơ cho rằng vì các nguồn lực công đã được tập trung vào lúa gạo, các nông nghiệp truyền thống khác quá lâu, sự chuyển dịch sang các ngành năng suất cao hơn như năng lượng tái tạo diễn ra chậm hơn, mặc dù khu vực này có tiềm năng dồi dào về điện gió và năng lượng mặt trời. Họ cũng nói rằng kết nối giao thông được cải thiện trong khu vực sẽ giúp thu hút nhiều khách du lịch và các nhà đầu tư hơn và dẫn đến sự mở rộng của các hoạt động kinh tế.

    Tính đến năm 2019, có hơn 55.000 doanh nghiệp ở vùng đồng bằng, chiếm khoảng 11% tổng số cả nước, trong khi khu vực này chỉ có 5% chiều dài tổng số đường cao tốc của cả nước và làm hạn chế hiệu quả các hoạt động kinh tế trong khu vực.

    Quy hoạch tổng thể

    Đồng bằng cũng đã thu hút sự chú ý đáng kể của nước ngoài, đặc biệt là từ Hà Lan, đất nước đã có nhiều thế kỷ kinh nghiệm trong việc quản lý tài nguyên nước của mình thông qua mạng lưới kênh rạch. Tháng trước, Hà Lan và Việt Nam đã ra mắt một sáng kiến ​​song phương – Nền tảng Kinh doanh Hà Lan – Việt Nam cho Đồng bằng Sông Cửu Long – để kích thích sự phát triển trong khu vực thông qua quan hệ đối tác công tư.

    Đó là động thái mới nhất về sự tham gia của Hà Lan vào Đồng Bằng Sông Cửu Long, kể từ năm 2013 khi Hà Lan cùng Chính phủ Việt Nam đưa ra Kế hoạch Đồng bằng sông Cửu Long. Kế hoạch này nhằm tiến tới công nghiệp hóa trong ngành nông nghiệp của đồng bằng, kết hợp với việc sử dụng đất năng động, cải thiện hợp tác liên tỉnh và liên ngành cũng như các biện pháp khác để đảm bảo một tương lai bền vững cho môi trường.

    Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 hiện bao gồm các yếu tố từ kế hoạch năm 2013, dự kiến ​​sẽ đệ trình phê duyệt cuối cùng vào cuối năm 2021.

    TS Lê Anh Tuấn, giảng viên cao cấp Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên của Đại học Cần Thơ cho biết, trong khi chính phủ có kế hoạch đặt nền tảng chính sách cho các lãnh đạo tỉnh, vẫn cần có những bước cụ thể để thực hiện kế hoạch và ngân sách.

    Ông Tuấn nói rằng để thực hiện được kế hoạch này, chính phủ Việt Nam cần tổ chức một cơ quan điều phối với kiến ​​thức về đồng bằng đóng vai trò như một ‘’nhạc trưởng’’ để dẫn dắt hòa hợp các bên liên quan tham gia vào sứ mệnh nâng cao sự phát triển của khu vực.

    Trong khi đó, cư dân khu vực đồng bằng sông Cửu Long như chị Bùi Thu Thảo, 37 tuổi, lớn lên tại thị xã Long Xuyên, mong muốn ở lại khu vực và đóng góp cho sự phát triển và thịnh vượng của nó, mặc dù có nhiều thách thức và bất ổn.

    Thảo có gần một thập kỷ kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực dịch vụ xã hội và chị đang xem xét khởi động một dự án với bạn bè của chị để dạy các khóa học phát triển kỹ năng – bao gồm các kỹ năng lãnh đạo và xây dựng mối quan hệ – với học sinh địa phương, để đạt mục tiêu xây dựng mức độ tự tin và tính linh hoạt của những người trẻ tuổi trong vùng đồng bằng.

    Tuy nhiên, thỉnh thoảng, Thảo cảm thấy buồn khi nhớ lại nhiều người bạn của chị đã di cư đến nơi khác, vì công việc hoặc vì hôn nhân. Nhưng, Thảo cũng chia sẻ, cuối cùng chị đã chấp nhận được thực tế này, “vì ai cũng cần có một cuộc sống tốt hơn.”

    Bài viết gốc:

    https://www.scmp.com/week-asia/politics/article/3123184/chinese-dams-pollution-send-vietnamese-mekong-delta-search

  • ‘Nghĩa địa san hô’ tại Vịnh Nha Trang – lời cảnh tỉnh về biến đổi khí hậu

    ‘Nghĩa địa san hô’ tại Vịnh Nha Trang – lời cảnh tỉnh về biến đổi khí hậu

    • Chỉ 1% san hô của Việt Nam ở trạng thái khỏe mạnh, phần còn lại đang đối mặt với nhiều mối đe dọa nguy hiểm đến sự sống còn.

    • Các nhà hoạt động địa phương nỗ lực bảo tồn san hô dù biến đổi khí hậu và tác động con người tiếp tục gây ra sự tẩy trắng và phân hủy san hô.

    Chính quyền địa phương đã hạn chế bơi và lặn trong khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang  cho đến khi kiểm tra toàn diện khu vực. Tệp ảnh: AFP
    Chính quyền địa phương đã hạn chế bơi và lặn trong khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang cho đến khi kiểm tra toàn diện khu vực. Tệp ảnh: AFP

    Cảnh quay gây ấn tượng mạnh mẽ về san hô chết tại khu bảo tồn biển Việt Nam mà mắt thường có thể quan sát được đã kêu gọi nỗ lực hành động nhiều hơn nữa vì môi trường, khi tạm dừng du lịch hai năm vì dịch bệnh cũng không thể cứu vãn các loài san hô.

    Hình ảnh và video về san hô chết trải dài hàng trăm mét vuông tại Hòn Mun đã gây chấn động dư luận và khiến chính quyền địa phương tạm dừng hoạt động du lịch lặn biển trong khu bảo tồn biển cho đến khi kiểm tra toàn bộ khu vực. Rạn san hô chết nằm ở vịnh Nha Trang, khu vực đầu tiên được công nhận trong số 16 khu bảo tồn biển ở Việt Nam.

    Cảnh tượng đáng lo ngại được các truyền thông địa phương mệnh danh là “nghĩa địa san hô”, làm nổi bật mức độ của sự tàn phá môi trường ở Việt Nam do con người, thiên tai và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu gây ra.

    “Rạn san hô Nha Trang đã bị tàn phá trước đại dịch. Sự phân rã diễn ra trong một thời gian dài, không phải đột ngột. Bọn anh khảo sát hàng năm và thấy hiện tượng này mỗi năm.” Anh Lê Chiến chia sẻ. Anh là sáng lập Trung tâm Cứu hộ Động vật Biển – một tổ chức phi chính phủ phục hồi các rạn san hô bị hư hại và cứu hộ các động vật biển bị mắc kẹt trên Bờ biển miền Trung của Việt Nam.

    Nhìn từ trên không ra Đảo Hòn Mun hoặc Vịnh San Hô, tại Vịnh Nha Trang.  Ảnh tập tin: Shutterstock
    Nhìn từ trên không ra Đảo Hòn Mun hoặc Vịnh San Hô, tại Vịnh Nha Trang. Ảnh tập tin: Shutterstock

    Nguyên nhân vấn đề

    Ban Thường vụ Tỉnh ủy Khánh Hòa cho biết báo cáo ngày 20 tháng 6 cho biết san hô bị tẩy trắng do ảnh hưởng của nhiều yếu tố chồng chất bao gồm biến đổi khí hậu và tác động của bão trong những năm gần đây. Các yếu tố khác bao gồm quản lý yếu kém của Ban quản lý Vịnh Nha Trang và các hoạt động có hại chưa được giải quyết như đánh bắt bất hợp pháp và chất thải từ các hoạt động du lịch, báo cáo cho biết.

    Anh Chiến cho biết thêm các hoạt động khác gây ra sự diệt vong cho các rạn san hô là “khai thác san hô” để bán thương mại và tour đi bộ xuyên biển, khi hướng dẫn viên sẽ nhổ san hô từ một khu vực khác và trồng nó trong khu vực hoạt động của họ để khách du lịch có thể thưởng thức phong cảnh đi bộ dưới nước.

    Đi bộ xuyên biển, đánh bắt cá trái phép và chất thải từ du lịch  đã làm hỏng rạn san hô ở Vịnh Nha Trang. Tệp ảnh: AFP
    Đi bộ xuyên biển, đánh bắt cá trái phép và chất thải từ du lịch đã làm hỏng rạn san hô ở Vịnh Nha Trang. Tệp ảnh: AFP

    Anh Chiến, người đã trồng san hô mới ở Đà Nẵng từ năm 2018, cho biết sẽ mất khoảng ba năm để trồng một khu vực san hô rộng 10 mét vuông, "nhưng một khách du lịch có thể dẫm lên san hô và phá hủy diện tích 100 mét vuông trong một ngày ”.

    Anh nói thêm rằng việc giám sát quản lý và khai thác san hô đã là một vấn đề nhức nhối từ nhiều năm nay của Việt Nam – một đất nước từ lâu dựa vào cảnh đẹp thiên nhiên, tài nguyên biển cho nguồn thu của du lịch và thủy sản. Sự xâm lấn và tàn phá các rạn san hô đã được báo cáo trong nhiều năm tại các địa điểm du lịch khác như đảo Phú Quốc và ven biển tỉnh Phú Yên.

    Vào năm 2017, Viện Hải dương học báo cáo rằng 42% rạn san hô của bán đảo Sơn Trà, một khu bảo tồn thiên nhiên ở Đà Nẵng, đã biến mất từ năm 2006 đến 2016, với lý do như phát triển đô thị ven biển và khai thác quá mức tài nguyên biển.

    Nghiên cứu năm 2020 của các học giả Việt Nam và Nga trong Tạp chí Marine and Freshwater Research (tạm dịch là Nghiên cứu Biển và Nước ngọt) chỉ ra rằng chỉ 1% các rạn san hô của Việt Nam là ở trạng thái khỏe mạnh trong khi phần còn lại phải đối mặt với nhiều mối đe dọa

    sống còn.

    “Thực tế, mạng lưới các khu bảo tồn biển ở Việt Nam chỉ tồn tại trên danh nghĩa và chưa được đầu tư thực sự” – Bà Bùi Thị Thu Hiền, Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế cho biết.

    Vịnh Nha Trang, với 250 loài san hô cứng, từng là nơi có sự đa dạng san hô cao nhất ở Việt Nam. Nhưng khi các nhà nghiên cứu khảo sát và lập bản đồ thì phát hiện ra rằng, san hô trong vịnh đã suy giảm 90% trong vòng chưa đầy bốn thập kỷ, từ năm 1980 đến 2019.

    Các hoạt động du lịch rạn san hô, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản mỗi năm được ước tính thiệt hại giá trị kinh tế khoảng 27,8 triệu đến 31,72 triệu đô la Mỹ hàng năm ​​, theo một nghiên cứu năm 2018 của Đại học Nha Trang trên tạp chí Ecosystem Services.

    Nghiên cứu cũng nêu lên những lo ngại về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và khoảng 2.000 tàu cá xung quanh Vịnh Nha Trang khai thác thủy sản tự do không giới hạn khối lượng đánh bắt.

    CÁC NHÀ HOẠT ĐỘNG ĐỨNG ĐẦU CHIẾN TUYẾN

    Bùi Thị Thu Hiền, Giám đốc vùng biển và ven biển của Liên minh Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên, đã cảnh báo chính quyền Nha Trang về việc tẩy trắng hàng loạt ở các rạn san hô, thúc giục họ "xem xét lại việc quản lý của mình".

    “Chị biết thực trạng mạng lưới khu bảo tồn biển của Việt Nam là chỉ có tên thôi … mà không thực sự đầu tư” – Bà Hiền cho biết.

    Bà Hiền giải thích rằng sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương thường quyết định sự thành công của những nỗ lực bảo vệ biển ở Việt Nam, và cũng cần sự quan tâm của chính quyền các cấp.

    Các nhà hoạt động ở các nơi khác ở Việt Nam cũng than phiền về sự biến mất của đa dạng sinh học. Trương Nguyễn Luân, tình nguyện viên khu bảo tồn Phú Quốc, người đã thu thập và phân tích rác trên biển từ tháng 05/2021 cho rằng những người làm trong ngành du lịch Phú Quốc chỉ nhìn thấy cái lợi “trước mắt”. Các công ty lữ hành ở Phú Quốc thường phục vụ ý muốn của khách du lịch, chẳng hạn như đưa sao biển lên bờ và để chúng chết dưới ánh nắng mặt trời gay gắt, dẫm lên san hô để chụp ảnh hoặc làm quà lưu niệm.

    Các quan chức hàng hải trong khu vực thường cảnh báo du khách không được thực hiện những hoạt động này nhưng ngần ngại đưa ra một khoản tiền phạt, anh nói, rút ​​ra từ quan sát của mình trong các chuyến đi thực tế.

    “Em nghĩ chắc 5 năm nữa thì Phú Quốc sẽ không còn san hô và người ta sẽ chuyển sang ngắm san hô Côn Đảo và phá ngoài đó”.

    Tại Đà Nẵng, anh Chiến cho biết nhóm của anh sẽ tiếp tục sứ mệnh cứu san hô.

    “Mục tiêu của bọn anh là nghiên cứu để tìm ra phương pháp sửa sai chứ không phải ngồi đó và than vãn.”, anh chia sẻ thêm “Bọn anh không phải là những người có thể đi sâu vào luật pháp và các vấn đề chính sách. Chúng tôi sử dụng khoa học”.

    Tháng trước, Trung tâm Sasa đã chia sẻ trên Facebook những bức ảnh về san hô chớm nở từ bốn mẫu vật mà nhóm của Chiến đã trồng dưới đáy biển của bán đảo Sơn Trà hai tháng trước đây và thu hút hơn 2.000 lượt thích. Những cây san hô mới này bổ sung vào hàng nghìn mét vuông san hô mà nhóm đã tạo ra trong khu vực.

    "Tuyệt vời quá ạ, hệ sinh thái biển Nha Trang đang nguy kịch mong cả nhóm quan tâm triển khai cứu rạn san hô ở đây ạ", một bình luận trên bài đăng cho thấy.

    Bài viết gốc:

    https://www.scmp.com/week-asia/health-environment/article/3186177/vietnams-coral-grave-nha-trang-bay-wake-call-climate?module=perpetual_scroll_0&pgtype=article&campaign=3186177