Sau 4 năm, Vicosap đã thành công mang quả dừa từ một đặc sản địa phương vươn ra thế giới, và hướng đến con đường Phát triển Bền vững trong tương lai.
Anh Trần Duy Linh, người con của Cầu Kè, Trà Vinh, từng rời quê lập nghiệp. Nơi đất khách, anh nhận ra rằng nhiều vùng miền có đặc sản được chế biến và xuất khẩu khắp nơi, trong khi quả dừa sáp quê mình lại quá thiệt thòi khi chỉ được bán lẻ từng trái, không thể vận chuyển xa do khó bảo quản. Chính điều này đã thôi thúc vợ chồng anh “bỏ phố về quê” khởi nghiệp, thành lập Công ty TNHH Chế biến Dừa sáp Cầu Kè, lấy tên thương hiệu là Vicosap. Đây là đơn vị đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam chuyên chế biến các sản phẩm từ dừa sáp, mở ra một chương mới cho loại quả đặc sản này.
Anh Trần Duy Linh (ở giữa) nhận xác lập kỷ lục Việt Nam vì đã nỗ lực chế biến sâu trái dừa sáp thành hệ thống nhiều dòng sản phẩm nhất, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu, góp phần nâng cao giá trị đặc sản dừa sáp Cầu Kè (Trà Vinh).
Nỗ lực bảo tồn giá trị bản địa
Nếu dừa xiêm nôm na là dùng để uống, thì dừa sáp lại mang đến một trải nghiệm ẩm thực đặc biệt với phần nước sánh dẻo, hương vị thơm béo khó quên. Cùi dừa sáp chứa nhiều protein, carbohydrate và chất béo, tạo nên sự sảng khoái, nhất là khi thêm đá và chút sữa đặc. Thế nhưng, chính phần sáp này lại khiến dừa sáp dễ lên dầu và nhanh hỏng so với dừa thường, làm cho việc vận chuyển trở nên khó khăn. Do đó, dừa sáp thường chỉ được tiêu thụ tại địa phương, hạn chế cơ hội mở rộng thị trường và phát triển sản phẩm đa dạng.
Với khao khát bảo tồn giá trị bản địa, năm 2020, xưởng chế biến dừa sáp của vợ chồng anh Linh đã ra đời. Đây không chỉ là bước đi để tận dụng tiềm năng của cây dừa sáp và chế biến thành các sản phẩm có giá trị cao, mà còn chứa đựng đầy tâm huyết, mong muốn tạo cơ hội việc làm cho người trẻ trở về xây dựng quê hương. Họ tìm mọi cách, áp dụng các phương pháp khoa học và công nghệ thực phẩm nhằm kéo dài thời hạn bảo quản, đưa những sản phẩm từ dừa sáp vươn xa hơn, đặc biệt là chinh phục thị trường quốc tế.
Quả dừa sáp có phần cơm sánh dẻo.
Khi bắt tay vào khởi nghiệp, Vicosap đã phải đối mặt với không ít khó khăn. Là doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực chế biến dừa sáp, họ gặp phải thách thức đầu tiên từ việc thiếu máy móc phù hợp trên thị trường. Không có sẵn thiết bị, Vicosap phải tự thiết kế, chế tạo, và điều chỉnh liên tục, làm tăng chi phí sản xuất. Đồng thời, việc tuyển dụng nhân lực có trình độ cao ở vùng quê cũng không hề dễ dàng, vì phần lớn là lao động phổ thông. Điều này buộc Vicosap phải mở văn phòng tại Cần Thơ để thuận tiện hơn trong việc tuyển dụng và quản lý kinh doanh.
Hiện, các sản phẩm từ dừa sáp ngày càng đa dạng và được ưa chuộng, đặc biệt là ở thị trường châu Âu. Những sản phẩm như dừa sáp sợi, dừa sáp sấy khô giòn tan, sữa chua dừa sáp sấy khô giòn tan, kẹo dừa sáp, và nhiều loại sản phẩm khác đã được phát triển, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong và ngoài nước.
Công nhân làm kẹo dừa sáp.
Hành trình đi tìm cội nguồn của quả dừa sáp Trà Vinh
Khi thương hiệu đã có chỗ đứng trên thị trường, vợ chồng anh Linh quyết định đi tìm lại cội nguồn chính xác của dừa sáp với tâm niệm: “Nếu không tìm về nguồn gốc, thì sau này sẽ mất gốc và không ai biết đến nơi xuất xứ của loại quả này”, Chị Lâm Ngọc Tú, Phó Giám đốc Công ty TNHH Chế biến Dừa sáp Cầu Kè, chia sẻ với Dear Our Community (DOC).
Hành trình “quay ngược quá khứ” của Vicosap là một câu chuyện dài, đầy thách thức khi phải lần mò hàng đống tư liệu và lời kể của người dân địa phương. Qua sự hỗ trợ của các nhà sư và những nhân chứng sống, họ đã xác định rằng quả dừa sáp được nhà sư Thạch Sô, người được mệnh danh là “ông tổ dừa sáp Trà Vinh”, đưa từ Campuchia về Trà Vinh vào năm 1924. Ban đầu, chỉ một trong hai cây giống sống sót, được trồng trong khuôn viên chùa Botumsakor (chùa Chợ) tại thị trấn Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.
Gốc dừa sáp đầu tiên trưng bày tại Bảo tàng dừa sáp Trà Vinh.
Điểm đặc biệt của giống này là một buồng dừa chỉ có vài trái sáp. Và ngay khi nếm thử những quả dừa sáp đầu tiên, người ta phát hiện vị dẻo thơm, béo ngậy của cơm dừa, khác hẳn các loại dừa thông thường. Xác định đây là giống dừa quý “có một không hai” tại Việt Nam, nên người dân địa phương rất trân trọng, giữ gìn và từ đó nhân giống dừa sáp tại các vùng lân cận như Cầu Kè, Hòa Ân. Và chỉ vùng đất Trà Vinh mới có thể trồng dừa sáp đạt chất lượng, khiến nơi đây trở thành "thủ phủ" của loại quả đặc sản này.
Thách thức và tầm nhìn Phát triển Bền vững
Từ lúc khởi nghiệp đến nay, doanh nghiệp đã trải qua nhiều thăng trầm, đặc biệt là trong giai đoạn đại dịch COVID-19. Việc xây dựng hệ thống phân phối gặp khó khăn, họ phải dựa vào kênh bán hàng online trong gần hai năm để duy trì hoạt động.
Một trong những thách thức lớn mà doanh nghiệp phải đối mặt là việc bảo tồn giống dừa sáp bản địa trong bối cảnh công nghệ đang ngày càng phát triển. Nhiều người bắt đầu tìm cách trồng dừa sáp ở các vùng khác, có thể dẫn đến nguy cơ mất đi giá trị đặc sản của Trà Vinh. Do đó, doanh nghiệp đang tìm cách kết hợp với nông hộ để phát triển vùng nguyên liệu địa phương, trồng dừa sáp theo phương pháp hữu cơ nhằm bảo tồn và phát triển giống dừa sáp.
Không chỉ dừng lại ở sản xuất, Vicosap cũng đóng góp vào phát triển du lịch Trà Vinh, nơi còn gặp nhiều hạn chế về giao thông và hạ tầng. Bằng cách kết hợp với các nông hộ, họ đã xây dựng các trải nghiệm du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, nhằm giới thiệu đến du khách về văn hóa và lịch sử của Trà Vinh. Mới đây, việc thành lập Bảo tàng Dừa Sáp Trà Vinh và tổ chức các hoạt động gắn liền với văn hóa Khmer đã thu hút sự quan tâm của du khách, đặc biệt là các bạn trẻ, giúp họ hiểu hơn về giá trị bản địa và tài nguyên của quê hương.
Chị Lâm Ngọc Tú (bìa phải) giới thiệu sản phẩm tại hội chợ quốc tế.
Xuất phát từ lòng đam mê và tình yêu quê hương, Vicosap không chỉ đơn thuần là một doanh nghiệp chế biến dừa sáp mà còn đặt mục tiêu trở thành đơn vị tiên phong, chuyên nghiệp và uy tín trong lĩnh vực này. Chị Tú tiết lộ với DOC: "Vicosap đã và đang nỗ lực đa dạng hóa các sản phẩm từ dừa sáp theo xu hướng plant-based, phù hợp với thị hiếu của thị trường thế giới." Song song đó, với định hướng phát triển bền vững, doanh nghiệp đã không ngừng học hỏi và tham gia các khóa tập huấn về chứng nhận và quy trình chế biến thực phẩm để tiếp cận nhiều thị trường nước ngoài, đưa đặc sản Trà Vinh vươn xa.
Khảo sát "Bạn hiểu thế nào về biến đổi khí hậu" của UNICEF thực hiện trên VnExpress từ 28/10 đến 2/11/2022, với gần 3.500 người tham gia từ 63 tỉnh/thành phố trên cả nước. Trong đó, 1.304 người là các bạn trẻ (độ tuổi dưới 35) khi được hỏi: "Theo bạn, ai là người chịu trách nhiệm ứng
phó với biến đổi khí hậu (BDKH)?", 95% câu trả lời nói "Đó là trách nhiệm của tôi".
Bối cảnh chung hiện nay về BDKH
Hiện nay, thực trạng về BDKH đã và đang gây ra những tác động không chỉ ở mức độ quốc gia mà còn ảnh hưởng rõ rệt tới cuộc sống hàng ngày của con người. Thực trạng về BDKH có thể kể đến như: nhiệt độ toàn cầu tăng liên tục, thời tiết bất thường, cháy rừng, hạn hán, lũ lụt trên diện rộng…
Biến đổi khí hậu đang đe dọa không nhỏ đến an ninh lương thực trên toàn thế giới (Nguồn: kinhtemoitruong.vn)
Trước tình hình đó, giới trẻ dần nhận ra tầm quan trọng của việc tham gia vào hành trình thích nghi và giảm thiểu BDKH. Người trẻ cũng chính là nguồn lực tiềm năng để tạo ra các giải pháp tích cực cho các vấn đề trái đất đang gặp phải.
Giới trẻ nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu
Một tín hiệu đáng mừng là giới trẻ đã bắt đầu tự hình thành ý thức và tham gia đóng góp bằng những hành động nhỏ để giúp giảm thiểu tác hại của BDKH. Họ không chỉ chú trọng vào việc sử dụng các thiết bị công nghệ hiệu quả mà còn tham gia vào các hoạt động xanh như tái chế và tái sử dụng, giúp giảm thiểu lượng rác thải và ô nhiễm môi trường.
Ngoài ra, thông qua việc sử dụng mạng xã hội và các phương tiện truyền thông, các bài viết, video và hình ảnh tuyên truyền về BDKH đã được giới trẻ lan tỏa một cách tích cực. Từ đó, nhận thức về tác động của BDKH được gia tăng và những giải pháp thiết yếu đề xuất trở nên dễ dàng tham gia hơn.
Hưởng ứng Ngày Quốc tế phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai (Nguồn: Cổng Thông Tin Điện Tử Chính Phủ)
Thực chất, “Biến đổi khí hậu” không chỉ là trách nhiệm của một quốc gia hay một tổ chức, mà các bạn Gen Z đã, đang và sẽ luôn có thể đóng góp một tay tham gia bằng một số hành động đơn giản như sau:
Sử dụng năng lượng tái tạo: Sử dụng năng lượng tái tạo như điện mặt trời, gió,… tắt các thiết bị điện khi không sử dụng
Sử dụng bao bì có thể tái chế và tiết kiệm tài nguyên: Quá trình sản xuất hàng hoá tiêu tốn rất nhiều tài nguyên và gây ra ô nhiễm môi trường. Việc tái chế và tiết kiệm tài nguyên có thể giảm thiểu tác động xấu đến môi trường và giúp bảo vệ hành tinh của chúng ta.
Giảm thiểu thải các bon từ góc độ cá nhân: Sử dụng các công nghệ xanh như xe điện, giao thông công cộng, hệ thống quản lý thông minh trong nhà hay toà nhà, ứng dụng di động để theo dõi tiêu thụ năng lượng để tiết kiệm tốt hơn,…
Tham gia vào hoạt động bảo vệ môi trường: trồng nhiều cây xanh, không sử dụng túi nilon, thu gom rác thải biển…
Dàn ‘xe ôm’ chạy điện của VinFast (Nguồn: markettimes.vn)Trồng cây gây rừng (Nguồn: Tạp chí điện tử Kinh Tế Môi Trường)
Tóm lại, mỗi người chúng ta dù thuộc thế hệ nào, đều luôn có thể thực hành những điều nhỏ nhất ngay bây giờ để cùng bảo vệ tương lai của con người, môi trường và hành tinh chung.
Xem thêm: Khóa học e-Learning cung cấp kiến thức kỹ năng cho người trẻ thực hành công việc tạo tác động xã hội bền vững. Và chờ đón khoá học online về ESG chuẩn bị ra mắt.
Các bạn tham gia vào group Sự Nghiệp Hạnh Phúc để cùng với DOC lan tỏa nhiều giá trị tốt đẹp, học hỏi lẫn nhau, cùng nhau phát triển thật bền vững nhé.
Trước hết, chúng ta nên làm rõ về khái niệm Biến Đổi Khí Hậu (BDKH) là gì?
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc, BDKH phản ánh sự thay đổi dài hạn về nhiệt độ và các hiện tượng thời tiết. Những thay đổi này là tự nhiên, nhưng kể từ những năm 1800, tác động của con người là nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu, chủ yếu do đốt nhiên liệu hóa thạch (như than, dầu và khí đốt) tạo ra khí giữ nhiệt.
BDKH có thể gây ra những tác động nghiêm trọng đối với môi trường, nền kinh tế và xã hội, bao gồm tăng mực nước biển, sự biến đổi của môi trường sống, tăng tần số của các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán và lũ lụt, và tác động đến năng suất nông nghiệp.
Nông nghiệp "thuận thiên" sử dụng các kỹ thuật canh tác thích ứng với BDKH, giúp người dân giảm thiểu thiệt hại do thiên tai. Điều này rất quan trọng đối với Đồng bằng sông Cửu Long, một vùng đất dễ bị tổn thương bởi thiên tai.
Những lợi ích từ nông nghiệp “thuận thiên”
Lợi ích đầu tiên của nông nghiệp "thuận thiên" là cải thiện sức khỏe. Bằng cách sử dụng phương pháp canh tác an toàn và thân thiện với môi trường, giúp giữ lại các chất dinh dưỡng trong đất và bảo vệ sức khỏe của người dân. Sản phẩm nông nghiệp theo phương pháp này giàu dinh dưỡng, ít độc hại hơn sản phẩm truyền thống, nhờ vào việc sử dụng phân bón hữu cơ và biện pháp tự nhiên, hạn chế hóa chất và thuốc trừ sâu.
Lợi ích thứ hai là tăng cường sinh kế. Nông nghiệp "thuận thiên" tạo ra cơ hội việc làm và thúc đẩy sinh kế cho cộng đồng. Mô hình này thường sử dụng nhiều lao động hơn so với mô hình truyền thống, do sử dụng các phương pháp canh tác thủ công đòi hỏi nhiều nguồn nhân công.
Hơn nữa, mô hình này có thể tích hợp với du lịch sinh thái, tạo nguồn thu nhập bổ sung cho cộng đồng, nhờ vào cảnh quan đẹp và trải nghiệm du lịch hấp dẫn cho du khách.
Nguồn: Abavina – Cộng đồng nông nghiệp Thuận Thiên
“Thuận thiên" giúp được gì cho môi trường?
"Nông nghiệp ‘thuận thiên’ mang đến lợi ích cho môi trường qua việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Sử dụng phương pháp canh tác bền vững giúp bảo vệ đất, nước, và rừng. Điều này cải thiện chất lượng đất, giảm ô nhiễm môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học, nhờ vào các biện pháp canh tác thân thiện với môi trường và duy trì cân bằng sinh thái.
Ngoài ra, nông nghiệp ‘thuận thiên’ cũng giúp giảm rủi ro từ thiên tai, bao gồm BDKH và xâm nhập mặn, thông qua việc áp dụng các kỹ thuật canh tác thích ứng với BDKH, giúp người dân giảm thiểu thiệt hại từ các sự kiện thiên tai."
Nguồn: Abavina – Cộng đồng nông nghiệp Thuận Thiên
Dự án "Abavina – Cộng đồng nông nghiệp Thuận Thiên": đi cùng sự phát triển của nông dân nữ
Tại Hậu Giang và Cần Thơ hiện nay, thu nhập của các hộ nông dân nữ ở tỉnh còn thấp và không ổn định, do phụ thuộc vào diện tích canh tác nhỏ, năng suất thấp, và chi phí sản xuất cao. Bên cạnh đó, nông dân nữ thiếu kiến thức và kỹ năng sản xuất nông nghiệp bền vững, dẫn đến suy thoái môi trường và sức khỏe, cũng như gặp khó khăn trong việc tiếp cận thị trường và các dịch vụ hỗ trợ.
Vì vậy mà dự án "Abavina – Cộng đồng nông nghiệp Thuận Thiên đã được cho ra đời vào năm 2017. Đây là một dự án quan trọng của công ty Abavina, nhằm hỗ trợ phụ nữ ở Hậu Giang và Cần Thơ trong việc phát triển sinh kế xanh. Từ khi triển khai, dự án đã có ảnh hưởng tích cực bằng cách nâng cao thu nhập, cải thiện môi trường và sức khỏe cho cộng đồng nông dân nữ ở các tỉnh này. Ngoài ra, dự án cũng đã đóng góp vào việc thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Nguồn: Abavina – Cộng đồng nông nghiệp Thuận Thiên
Dự án đang tập trung vào những mục tiêu như:
Cùng nông hộ xây dựng phương án sinh kế nông nghiệp dựa vào tài nguyên bản địa được thiết kế tùy chỉnh theo đặc điểm của từng nông hộ, theo hướng tối ưu hoá trên tài nguyên sẵn có và tăng thu nhập
Đồng hành, huấn luyện nông hộ biết tổ chức và quản lý kinh tế hộ gia đình, phát triển tư duy tự chủ, năng lực tự chủ và năng lực hợp tác của nông hộ
Liên kết nông hộ tham gia chuỗi cung ứng nông sản của Abavina; Kết nối thị trường & phân phối sản phẩm đâu ra
Thúc đẩy hợp tác phát triển giữa nông hộ và các bên liên quan, thúc đẩy kết nối, học hỏi, hợp tác nguồn lực
Tạo điển hình sản xuất và lan tỏa phương pháp thực hành để thúc đẩy hình thành cộng đồng nông nghiệp quy mô nhỏ dựa vào tài nguyên bản địa. Theo đó tài nguyên địa phương tối ưu hoá trong mô hình sản xuất tuần hoàn, khai thác bền vững và phục hồi hệ sinh thái.
Phát triển các dòng sản phẩm giá trị gia tăng (nông sản, thảo dược) từ tài nguyên bản địa, tạo giá trị gia tăng cho nông hộ sản xuất, người tiêu dùng và địa phương
Phát triển thị trường, phân phối sản phẩm cho nông hộ, và xây dựng thương hiệu nông sản thuận tự nhiên Abavina
Truyền thông và thúc đẩy nhân rộng mô hình cộng đồng nông nghiệp dựa vào tài nguyên bản địa
Đến nay, dự án đã đạt được những kết quả và tác động tích cực, góp phần nâng cao sinh kế, cải thiện môi trường và sức khỏe cho cộng đồng nông dân nữ ở tỉnh Hậu Giang và Cần Thơ.
Năng suất và chất lượng nông sản từ các hộ nông dân đã trải qua sự cải thiện đáng kể, điều này đã dẫn đến việc tăng thu nhập trung bình của họ lên tới 30%.
Nguồn: Abavina – Cộng đồng nông nghiệp Thuận Thiên
Ngoài ra, các hộ nông dân đã tích lũy kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực hiện sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp bền vững. Trong đó nông dân nữ đã có cơ hội tiếp cận thị trường và các dịch vụ hỗ trợ, đồng thời họ đã xây dựng được vị thế và tiếng nói trong cộng đồng. Qua đó,nhận thức về việc bảo vệ môi trường đã được nâng cao trong cộng đồng các hộ nông dân, từ đó môi trường và hệ sinh thái địa phương cũng có nhiều sự cải thiện đáng kể.
Xem thêm:Khóa học e-Learningcung cấp kiến thức kỹ năng cho người trẻ thực hành công việc tạo tác động xã hội bền vững. Và chờ đón khoá học online về ESG chuẩn bị ra mắt.
Các bạn tham gia vào group Sự Nghiệp Hạnh Phúc để cùng với DOC lan tỏa nhiều giá trị tốt đẹp, học hỏi lẫn nhau, cùng nhau phát triển thật bền vững nhé
Nguồn: Abavina – Cộng đồng nông nghiệp Thuận Thiên
Chính quyền địa phương lo ngại về tương lai của đồng bằng sông Cửu Long khi các đập thượng nguồn sông Mê Kông đe dọa sinh kế của người dân.
Sự màu mỡ của đồng bằng bị đe dọa vì ô nhiễm và các nhân tố khác. Liệu nông nghiệp bền vững, năng lượng tái tạo và kế hoạch phục hồi tổng thể có thể hồi sinh vùng đất này?
Một cánh đồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long sản xuất gần 50% sản lượng gạo, tương đương 43 triệu tấn vào năm 2019. Ảnh: Shutterstock
Ba năm trước, tình trạng thiếu việc làm đã khiến anh Trương Bá Long, 33 tuổi, chuyển đến trung tâm kinh tế của Việt Nam là Thành phố Hồ Chí Minh.
“Sài Gòn là miền đất hứa cho những người từ đồng bằng,” Long cho biết. Anh xuất thân là con nhà buôn bán và thợ làm tóc ở Kiên Giang, đi học bằng kỹ sư điện tại một trường đại học ở Sài Gòn và hiện làm thợ điện cho một chuỗi nhà hàng. Anh cho biết khoảng 80% những người bạn lớn lên cùng anh lớn lên cũng đã di cư vào Sài Gòn.
“Nơi mình ở, người dân làm ruộng quanh năm và không có nhiều việc làm”
Cũng giống như Long, khoảng 1,1 triệu người đã rời bỏ Đồng bằng sông Cửu Long rộng lớn trong thập kỷ vừa qua để tìm kiếm cơ hội khắp Việt Nam hoặc ở nước ngoài; do hậu quả của ô nhiễm môi trường, quy hoạch kém, các đập thượng nguồn đe dọa sinh kế của người dân và sức sống của vùng Đồng bằng.
Một báo cáo được công bố gần đây của các chuyên gia kinh tế và chính sách hàng đầu tại Việt Nam được tài trợ bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy rằng vùng đồng bằng có tỷ lệ di cư cao nhất và nhập cư thấp nhất ở cả nước. Đóng góp của vùng cho GDP của Việt Nam cũng đã giảm mạnh trong ba thập kỷ qua – từ khoảng 27% vào năm 1990 xuống 17,7% vào năm 2019. Dân số của vùng đồng bằng, bao gồm 13 trong số 63 tỉnh và thành phố của Việt Nam, hiện là 17,1 triệu.
“Hệ quả tất yếu của tình trạng này là thiếu hụt lao động (ở đồng bằng) ngày càng phổ biến, đồng thời dân số già đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng”, báo cáo cho biết. Các tác giả bao gồm các giáo sư từ Đại học Fulbright Việt Nam và Đại học Cần Thơ, các nhà quản lý doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu tại Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp.
Báo cáo cho biết, việc thiếu lao động có kỹ năng cộng với việc chuyển đổi chậm qua các ngành có tính năng suất cao hơn khiến nền kinh tế của vùng đồng bằng bị bỏ lại phía sau.
Bài toán lương thực
Cuối thế kỷ 20, Việt Nam muốn cạnh tranh với Thái Lan về xuất khẩu gạo, vì vậy chính phủ và nông dân xây dựng hệ thống đê kín xung quanh đất nông nghiệp, ngăn chặn mùa nước nổi vào ruộng lúa và trồng thêm vụ thứ ba mỗi năm thay vì chỉ hai vụ như trước. Thu hoạch lúa gạo tăng từ 4 triệu tấn năm 1975 lên hơn 20,7 triệu vào năm 2010. Việt Nam trở thành nước sản xuất gạo lớn thứ ba trên thế giới, sau Ấn Độ và Thái Lan.
Đến năm 2019, sản lượng gạo của Việt Nam đã tăng lên hơn 43 triệu tấn, trong đó sản lượng của đồng bằng chiếm 50%. Khu vực này cũng là vựa trái cây của cả nước khi đóng góp tới 60% sản lượng, và 70% sản phẩm nuôi trồng thủy sản.
Nhưng cái giá phải trả cho những thành tựu này là sự phì nhiêu của vùng đồng bằng. Trong các khu vực đê bao khép kín, mùa nước nổi – cần thiết để bồi đắp phù sa cho ruộng lúa và rửa trôi các sunphat có tính axit và các chất độc hại khác đi – không còn diễn ra. Và, với ba vụ lúa được trồng mỗi năm, đất không có đủ thời gian để phục hồi độ phì nhiêu tự nhiên.
Ngoài ra, tình trạng lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật đang diễn ra tràn lan ở Đồng bằng sông Cửu Long, theo báo cáo năm 2017 của Ngân hàng Thế giới về ô nhiễm nông nghiệp ở vùng này. Các công trình đập được xây để ngăn mặn và trữ nước ngọt ở sông Mê Kông cũng đã dẫn đến ô nhiễm nước gia tăng do chất thải tích tụ, theo một nghiên cứu năm 2018 của Đại học Cần Thơ.
Bài toán lương thực
Việc khai thác cát bất hợp pháp ở đồng bằng – được sử dụng để làm bê tông và nhựa đường – cũng đã xuất hiện tràn lan. Marc Goichot, người lãnh đạo Sáng kiến Nước ngọt của WWF ở sông Mekong, cho biết tổ chức đã và đang làm việc với các đối tác Việt Nam để thúc đẩy sản xuất cát bền vững ở đồng bằng, cân bằng các vấn đề môi trường với nhu cầu gia tăng từ lĩnh vực xây dựng của Việt Nam.
“Việt Nam cần một giải pháp thay thế cho cát khai thác từ đồng bằng. Khi bạn lấy cát ở Đồng bằng sông Cửu Long, có người ven biển mất nhà”. Goichot cho biết, đề cập đến sự sạt lở đất do khai thác cát gây ra.
Ở vùng châu thổ, nơi những ngôi nhà một hoặc hai tầng nép mình bên những con kênh, văn hóa sông nước là đặc trưng rất rõ nét. Tuy nhiên, cư dân sinh sống tại nơi đây đối mặt với nguy cơ tiềm ẩn mất an toàn do sạt lở bờ sông bởi khai thác cát, xâm nhập mặn và các đập thủy điện ở thượng nguồn. Các hoạt động nhân tạo này có tác động vượt xa biến đổi khí hậu và gây ra các mối đe dọa lớn hơn trong ngắn hạn trong khi làm trầm trọng thêm các tác động của biến đổi khí hậu trung và dài hạn, theo nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí khoa học Nature vào năm 2019.
Tiến sĩ Trần Thị Phụng Hà, giáo sư xã hội học tại Đại học Cần Thơ, cho rằng khu vực cần có kế hoạch cơ sở hạ tầng tốt hơn. “Đầu tư vào các chương trình phát triển ở vùng đồng bằng lẽ ra phải được thực hiện 10 năm trước”, cô nói thêm rằng các người dân ở khu vực sẽ tiếp tục cố gắng tìm kiếm việc làm ở các khu công nghiệp ở miền Nam, vì khó tìm được việc làm được trả lương cao hơn ở vùng đồng bằng.
Thiệt hại kinh tế
Nhưng việc thiếu quy hoạch cơ sở hạ tầng không phải là điều duy nhất kìm hãm sự tăng trưởng. Trong nhiều năm, 11 đập thủy điện công suất lớn như thác nước do Trung Quốc xây dựng dọc theo thượng nguồn dòng Mê Kông tại khu vực nước họ đã làm gián đoạn dòng chảy và mực nước sông. Theo một báo cáo của Eyes on Earth, một công ty nghiên cứu và tư vấn của Hoa Kỳ tập trung vào các vấn đề về nước, vào năm 2019, các phần của Thái Lan, Campuchia, Lào và Đồng bằng sông Cửu Long bị thiếu nước nghiêm trọng vì những hạn chế dòng nước do cách quản lý đập ở thượng nguồn.
Tại một thời điểm, trung bình, con sông thấp hơn tự nhiên khoảng 5 mét, trong khi khu vực thượng nguồn của Trung Quốc nhận được lượng mưa trên mức trung bình trong hầu hết cả năm. Năm 2020, Đồng bằng sông Cửu Long hứng chịu đợt hạn hán lịch sử và xâm nhập mặn kỷ lục, mà các chuyên gia cho rằng là do giảm lượng mưa do hiện tượng El Nino và giảm lượng phù sa do các đập của Trung Quốc gây ra. Theo quy luật tự nhiên của sông Mekong, nước ở thượng nguồn đưa phù sa xuống làm màu mỡ cho các vùng đất hạ lưu.
Tháng trước, Thái Lan đe dọa sẽ hủy kế hoạch cho một công ty Trung Quốc phát triển đập trên sông Mekong ở nước láng giềng Lào, với lý do lo ngại về tiềm năng tác động môi trường và sự gián đoạn của dòng chảy.
Mặc dù các đập lớn do Trung Quốc điều hành được coi là nguyên nhân chính phá hủy sức sống của sông Mekong mà sinh kế của 60 triệu người đang hàng ngày phụ thuộc, 118 đập thủy điện khác dọc theo bờ sông Mekong – khoảng một nửa trong số này nằm ở Lào (theo Cơ quan Theo dõi Cơ sở hạ tầng Mekong do Hoa Kỳ tài trợ) có thể gây ra nhiều thiệt hại.
Thiệt hại kinh tế
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các chi phí kinh tế và sinh thái đi kèm với thủy điện trên sông Mekong và những con đập thượng nguồn sẽ đe dọa quần thể cá và phá vỡ thủy văn sông tự nhiên.
Brian Eyler là giám đốc chương trình Đông Nam Á tại Trung tâm Stimson, tổ chức tư vấn có trụ sở tại Washington và là tác giả của “Những ngày cuối của dòng MeKong hùng vỹ”. Ông cho biết sự thất bại trong việc bảo vệ Đồng bằng sông Cửu Long không thể hoàn toàn là do Trung Quốc.
“Mối đe dọa của bộ ba tác nhân: đập thuỷ điện, quy hoạch địa phương không bền vững và biến đổi khí hậu đứng sau tình trạng di cư chưa từng có tiền lệ tại nơi đây” .
Cuối năm 2017, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu các nhân tố như hệ thống đập ở thượng nguồn và việc gia tăng các hoạt động sản xuất trong nước cũng như biến đổi khí hậu đã làm tổn hại vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Chính Phủ thông qua Nghị quyết 120 về Phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu, giao các bộ và chính quyền địa phương thực hiện một số nhiệm vụ trong theo đuổi mục tiêu.
Ông Lê Hoàng Thanh, một nông dân sống ở ngoại ô thành phố Cần Thơ, đang cố gắng nâng cao nhận thức của các cộng đồng địa phương về việc tự cung tự cấp lương thực trước vô vàn thách thức.
Được biết đến với cái tên chú Hai Thanh, người đàn ông 72 tuổi dạy người dân địa phương về nuôi trồng đa canh tức là nuôi trồng các loại cây trồng hoặc vật nuôi khác nhau trên một không gian cùng một lúc. Ông cho biết ông đã học hỏi từ các nhà nghiên cứu của Đại học Cần Thơ và sau đó sửa đổi cho phù hợp với địa phương.
Trên mảnh đất rộng nửa ha của chú Hai Thanh, từng nhánh mít, sầu riêng, xoài và những cây ăn quả khác mà ông trồng đang trổ chồi mới. Cách đó vài bước là âm thanh nhộn nhịp của hàng trăm con gà. Ông không sử dụng thuốc trừ sâu hoặc phân bón trên cây trồng, mô hình của ông là một dẫn chứng tiêu biểu của sự hài hòa các nhân tố khi nuôi trồng
Hai cái ao của ông đã chứng thực điều này. Chúng được bao phủ bởi bèo, nguồn thức ăn tối ưu cho ốc ông đang nuôi để tạo thành một vòng tròn thức ăn hữu cơ. Trong khi nhiều nông dân ở vùng đồng bằng thường có thu nhập vài tháng một lần, Thanh bán ốc cho các nhà hàng địa phương, kiếm được 8 triệu đồng một tháng chỉ từ hoạt động này – khoảng gấp đôi mức lương trung bình hàng tháng của một người làm công tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Nông dân Lê Hoàng Thanh khoe những con ốc ông nuôi trong trang trại ở TP Cần Thơ. Ảnh: Sen Nguyễn
Ông nói: “Người dân vùng đồng bằng được thiên nhiên ưu đãi rất nhiều. "Họ trồng cây thì sinh hoa kết trái. Họ thả cá vô ao thì nó lớn”. Nhưng sự trù phú về tự nhiên của vùng châu thổ đã mất dần vì ô nhiễm, biến đổi khí hậu và các vấn đề khác, những vấn đề mà người nông dân chưa nghĩ đến. Việc áp dụng công nghệ mới cũng khó khăn vì họ phụ thuộc vào thói quen cũ và một phần vì thiếu tài chính.
Các chuyên gia tại Đại học Fulbright Việt Nam và Đại học Cần Thơ cho rằng vì các nguồn lực công đã được tập trung vào lúa gạo, các nông nghiệp truyền thống khác quá lâu, sự chuyển dịch sang các ngành năng suất cao hơn như năng lượng tái tạo diễn ra chậm hơn, mặc dù khu vực này có tiềm năng dồi dào về điện gió và năng lượng mặt trời. Họ cũng nói rằng kết nối giao thông được cải thiện trong khu vực sẽ giúp thu hút nhiều khách du lịch và các nhà đầu tư hơn và dẫn đến sự mở rộng của các hoạt động kinh tế.
Tính đến năm 2019, có hơn 55.000 doanh nghiệp ở vùng đồng bằng, chiếm khoảng 11% tổng số cả nước, trong khi khu vực này chỉ có 5% chiều dài tổng số đường cao tốc của cả nước và làm hạn chế hiệu quả các hoạt động kinh tế trong khu vực.
Quy hoạch tổng thể
Đồng bằng cũng đã thu hút sự chú ý đáng kể của nước ngoài, đặc biệt là từ Hà Lan, đất nước đã có nhiều thế kỷ kinh nghiệm trong việc quản lý tài nguyên nước của mình thông qua mạng lưới kênh rạch. Tháng trước, Hà Lan và Việt Nam đã ra mắt một sáng kiến song phương – Nền tảng Kinh doanh Hà Lan – Việt Nam cho Đồng bằng Sông Cửu Long – để kích thích sự phát triển trong khu vực thông qua quan hệ đối tác công tư.
Đó là động thái mới nhất về sự tham gia của Hà Lan vào Đồng Bằng Sông Cửu Long, kể từ năm 2013 khi Hà Lan cùng Chính phủ Việt Nam đưa ra Kế hoạch Đồng bằng sông Cửu Long. Kế hoạch này nhằm tiến tới công nghiệp hóa trong ngành nông nghiệp của đồng bằng, kết hợp với việc sử dụng đất năng động, cải thiện hợp tác liên tỉnh và liên ngành cũng như các biện pháp khác để đảm bảo một tương lai bền vững cho môi trường.
Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 hiện bao gồm các yếu tố từ kế hoạch năm 2013, dự kiến sẽ đệ trình phê duyệt cuối cùng vào cuối năm 2021.
TS Lê Anh Tuấn, giảng viên cao cấp Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên của Đại học Cần Thơ cho biết, trong khi chính phủ có kế hoạch đặt nền tảng chính sách cho các lãnh đạo tỉnh, vẫn cần có những bước cụ thể để thực hiện kế hoạch và ngân sách.
Ông Tuấn nói rằng để thực hiện được kế hoạch này, chính phủ Việt Nam cần tổ chức một cơ quan điều phối với kiến thức về đồng bằng đóng vai trò như một ‘’nhạc trưởng’’ để dẫn dắt hòa hợp các bên liên quan tham gia vào sứ mệnh nâng cao sự phát triển của khu vực.
Trong khi đó, cư dân khu vực đồng bằng sông Cửu Long như chị Bùi Thu Thảo, 37 tuổi, lớn lên tại thị xã Long Xuyên, mong muốn ở lại khu vực và đóng góp cho sự phát triển và thịnh vượng của nó, mặc dù có nhiều thách thức và bất ổn.
Thảo có gần một thập kỷ kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực dịch vụ xã hội và chị đang xem xét khởi động một dự án với bạn bè của chị để dạy các khóa học phát triển kỹ năng – bao gồm các kỹ năng lãnh đạo và xây dựng mối quan hệ – với học sinh địa phương, để đạt mục tiêu xây dựng mức độ tự tin và tính linh hoạt của những người trẻ tuổi trong vùng đồng bằng.
Tuy nhiên, thỉnh thoảng, Thảo cảm thấy buồn khi nhớ lại nhiều người bạn của chị đã di cư đến nơi khác, vì công việc hoặc vì hôn nhân. Nhưng, Thảo cũng chia sẻ, cuối cùng chị đã chấp nhận được thực tế này, “vì ai cũng cần có một cuộc sống tốt hơn.”