Danh mục: Xã hội thoại

  • Chiếm dụng văn hoá ở Việt Nam (P2) – Hà Yến Chi

    Chiếm dụng văn hoá ở Việt Nam (P2) – Hà Yến Chi

    Áp dụng trong bối cảnh Việt Nam

    Do khái niệm chiếm dụng văn hóa có nguồn gốc từ bối cảnh phương Tây với lịch sử bạo lực thực dân khá rõ ràng, đa phần các ví dụ thường xoay quanh hiện tượng người da trắng Âu Mỹ chiếm dụng các thực hành văn hóa của các nhóm sắc tộc khác yếu thế hơn (như người da màu, người nhập cư, hay người bản địa) hoặc của các quốc gia khác. Trong các trường hợp này, trục tương quan chính nằm ở văn hóa quốc gia hoặc các nhóm sắc tộc (racial). Các nhóm bị vay mượn sử dụng khái niệm “chiếm dụng văn hoá” để phản đối việc người da trắng sử dụng thực hành văn hoá của họ để tăng giá trị bản thân, trong khi chính những người thuộc cộng đồng chủ thể thì lại bị đàn áp hoặc kỳ thị vì thực hành văn hoá của mình. Các ví dụ điển hình có thể kể đến như kiểu tóc tết (braids) hay bện (dreadlocks) của người châu Phi và gốc Phi, hay thực hành xông khói trừ tà (smudging) của người Mỹ bản địa.

    Ca sĩ Justin Bieber bị chỉ trích vì sử dụng kiểu tóc dreadlocks của người châu Phi và gốc Phi (Nguồn ảnh: OK! Magazine)

    Tuy nhiên, khái niệm này trở nên phức tạp hơn khi ứng dụng vào bối cảnh nội địa quốc gia cùng sắc tộc với lịch sử nội thực dân (internal colonialism – Hechter 1975) ít hiển lộ hơn. Khung lý thuyết chiếm dụng văn hóa thường mặc định ranh giới giữa các nhóm văn hóa và tộc người là rõ ràng và bất biến. Trên thực tế, đường biên văn hóa không hẳn luôn cố định, và việc phân định căn tính (identity) bao gồm nhiều khía cạnh ngoài tộc người. Trong bối cảnh Việt Nam, quá trình xây dựng nhà nước hậu thuộc địa dựa vào việc hợp nhất các tộc người (mà trước đó được kiến tạo bởi dân tộc học thực dân Pháp – Salemink 1990, 1999; Bayly 2000) vào chung một quốc gia dân tộc thống nhất. Vì thế, trong diễn ngôn phổ biến, các tộc người thiểu số được hình dung là 1 phần hiển nhiên và tất yếu của quốc gia Việt Nam. Đồng thời, sự “khác lạ” của các nền văn hóa thiểu số so với văn hóa Kinh cũng tạo ra sự tò mò, thích thú từ nhóm đa số. Tâm lý định vị văn hóa kép này dẫn đến kiến tạo các tộc người thiểu số là “internal Other” (tạm dịch: “người lạ nội bộ”) vừa là một phần gần gũi của cái “Tôi” vừa mang sự mới lạ của cái “Khác.” Nó lý giải tại sao nhóm chiếm ưu thế là người Kinh có xu hướng coi văn hóa các tộc người thiểu số là tài nguyên chung trong cùng bản sắc Việt Nam để khai thác, với niềm tin rằng mình đang bảo tồn văn hóa của chính mình, ở đây là văn hóa quốc gia – dân tộc Việt Nam. Do đó, các thảo luận về chiếm dụng văn hóa ở Việt Nam chủ yếu xoay quanh người Kinh và các nhóm thiểu số trong phạm vi quốc gia, chứ không phải với các tộc người thiểu số ở các quốc gia khác, cho dù các nhóm này có tương đồng văn hoá và liên hệ về lịch sử di cư với nhiều tộc người thiểu số ở Việt Nam. Diễn ngôn về chủ nghĩa dân tộc đa văn hóa (multicultural nationalism) này có thể dẫn đến niềm tin vô thức rằng người Kinh có “quyền” và “trách nhiệm” giúp đỡ định hướng cho các cộng đồng thiểu số bảo tồn văn hóa của chính mình sao cho “đúng cách,” tức là theo tiêu chuẩn đa số.

    Sự va chạm của các nền văn hóa (Nguồn: Equatex)

    Trong một phạm vi nhỏ hơn, việc xác định danh tính địa phương đôi khi vượt lên trên danh tính tộc người cụ thể, dẫn đến việc gộp chung văn hóa các tộc người khác nhau trong một danh tính địa phương “tưởng tượng” (cộng đồng tưởng tượng/imagined communities – Anderson 1983). Ở Việt Nam, một số danh tính địa – dân tộc (ethnoregional) chung thông dụng nhất là Tây Bắc (với các nhóm nổi trội như Thái, Mông, Dao,…) và Tây Nguyên (với các nhóm nổi trội như Êđê, Jarai, Kơho,…). Điều này lý giải tại sao các yếu tố văn hóa của các tộc người thiểu số thường được nhắc đến dưới danh tính địa phương chung thay vì tộc danh cụ thể. Ví dụ, Biti’s gọi thổ cẩm mình sử dụng là thổ cẩm “Tây Nguyên” (chưa nói đến việc đây là nhận dạng sai thổ cẩm Chăm), hay một số nhà thiết kế thời trang gọi chung thổ cẩm “Tây Bắc”, ngay cả khi các loại vải này chưa chắc đã đến từ vùng Tây Bắc, mà có thể là Đông Bắc. Nhà âm nhạc dân tộc học Lonán Ó Briain (2014) cũng miêu tả hiện tượng này qua việc các yếu tố văn hóa của nhiều nhóm dân tộc khác nhau như Tày, Mông, Dao,… được gộp chung trong các buổi biểu diễn quảng bá văn hóa địa phương ở Sapa, với các diễn viên đôi khi “đóng vai” các tộc người khác bằng cách mặc trang phục và sử dụng nhạc cụ của các nhóm này (ví dụ một số diễn viên người Tày hoặc Dao mặc trang phục người Mông và sử dụng khèn người Mông để biểu diễn). Khi danh tính địa phương bao trùm danh tính tộc người, người Kinh có thể tự liên hệ mình với các tộc người thiểu số sống cùng địa bàn, kể cả khi họ không cùng chung một văn hóa. Ví dụ, một tác giả người Kinh sống ở Hà Giang viết tiểu thuyết về người Mông ở Hà Giang có thể cho rằng những trải nghiệm và quan sát từ việc sinh sống gần cộng đồng này cho phép mình miêu tả chân thực về cuộc sống của người Mông ở đây.

    Chia sẻ quyền lực

    a. Kinh tế

    Ở VN hiện tại, phần lớn các thảo luận về chiếm dụng văn hóa tập trung vào một số khía cạnh chính là xúc phạm văn hóa và sai lệch thông tin (về nguồn gốc, nội dung hay bối cảnh thực hành). Tuy nhiên, một khía cạnh cốt yếu khác là chia sẻ lợi ích và quyền lực thì ít đc đề cập đến hơn. Một thực hành có thể giảm bớt rủi ro chiếm dụng khi nó hướng đến việc cân bằng lại cán cân quyền lực sẵn có. Cách chia sẻ lợi ích dễ thấy nhất là về mặt kinh tế, khi lợi nhuận từ các sản phẩm tiếp dụng văn hóa được chia sẻ công bằng và phù hợp với đóng góp của các bên (không nhất thiết là 50/50). Tuy vậy, các thông tin cụ thể về khía cạnh này ít khi được nghệ sĩ hay thương hiệu tiết lộ. Chưa kể, công bằng thương mại khó định lượng cố định, mà thường được quyết định thông qua đàm phán tự do giữa các bên. Do đó, việc chia sẻ lợi nhuận công bằng không chỉ là trách nhiệm của nghệ sĩ hay thương hiệu, mà còn phụ thuộc vào cách các cộng đồng thiểu số định vị giá trị và chất lượng của sản phẩm mình làm ra.

    b. Hiện diện truyền thông

    Ngoài quyền lợi kinh tế, chia sẻ quyền hiện diện truyền thông bằng cách trích nguồn văn hóa (accreditation) và tạo không gian cho cộng đồng chủ động thể hiện hình ảnh theo cách họ mong muốn cũng rất quan trọng. Có những tổ chức xã hội hay thương hiệu tuyên bố là trao quyền cho phụ nữ thiểu số nhưng trên các kênh truyền thông đa phần là thông tin về nội bộ tổ chức, nhà thiết kế hay người nổi tiếng, chứ hiếm thấy hình ảnh cộng đồng. Sự hiện diện truyền thông của các cộng đồng chủ thể là cần thiết, nhưng quan trọng hơn cả là cách họ hiện diện như thế nào. Việc đưa hình ảnh người dân tộc thiểu số vào truyền thông quảng cáo nếu không cẩn trọng rất dễ rơi vào tình trạng “sân khấu hóa” (performatize) các cộng đồng thiểu số, biến họ thành một hình thức trình diễn bề nổi khi nội dung và cách thức họ xuất hiện hoàn toàn đc quyết định bởi thương hiệu hay nghệ sĩ người Kinh. Trong trường hợp này, người dân tộc thiểu số được nhắc đến hay đưa ra về mặt hình ảnh để khán giả nhìn ngắm, nhưng không được cất lên tiếng nói thực của mình. Ví dụ, một số nghệ sĩ hay thương hiệu đưa nghệ nhân thiểu số tham gia các sự kiện truyền thông và sắp đặt họ vào các không gian kiểu khuôn mẫu theo hình dung phổ biến về dân tộc thiểu số (gắn với rừng núi, nông thôn, cây cỏ rơm rạ,…) nhưng khác với không gian và thực hành văn hóa của họ trên thực tế. Quyền tự chủ về hình ảnh cũng đảm bảo rằng họ là người đưa ra quyết định có hiện diện hay không. Nếu họ không muốn xuất hiện nhưng lại bị đưa ra trước công chúng thì đó lại là một thực hành mang tính bạo lực.

    Có một số lập luận cho rằng việc các thương hiệu hay nghệ sĩ tìm cảm hứng sáng tạo từ các tộc người thiểu số sẽ góp phần quảng bá những văn hoá này đến với công chúng. Trong nền kinh tế – chính trị văn hoá hiện nay, việc “quảng bá” các thực hành văn hoá thường được mặc định là một việc tốt, vì như vậy chúng có thể dễ dàng được thương mại hoá và tiêu thụ. Tuy nhiên, có những khía cạnh hay thực hành văn hoá chỉ nằm trong phạm vi cộng đồng chủ thể và việc trưng bày chúng ra ngoài khiến cho chúng mất đi ý nghĩa gốc. Ví dụ, tháp Chăm chỉ được mở khi có lễ tục quan trọng, nên việc buộc người Chăm mở tháp khi không có lễ là một sự xâm phạm về luật tục văn hóa và tính riêng tư của cộng đồng Chăm. Hoặc như trường hợp nhiếp ảnh gia người Mỹ Michael Heller của tòa báo Santa Fe New Mexican chụp ảnh một điệu nhảy nghi lễ của người bản địa Pueblo để đăng báo, trong khi luật tục của người Pueblo không cho phép chụp ảnh nghi lễ này vì cho rằng nó ảnh hưởng đến hiệu quả tâm linh. Họ sau đó đã khởi kiện Michael Heller và tòa báo với lý do vi phạm luật cấm chụp ảnh và xâm phạm tính riêng tư cộng đồng (Scaffidi 2006, 103). Có thể thấy, ngoài tính minh bạch (transparency), tính bí mật (secrecy) là một yếu tố quan trọng để một cộng đồng duy trì sự ổn định danh tính văn hoá của mình. Theo triết gia Jacques Derrida (2001), tính bí mật cũng mang trong nó công lý, và một xã hội yêu cầu tất cả mọi thứ phải minh bạch mà không cho phép bí mật tồn tại thì cũng trở thành độc tài. Diễn ngôn quảng bá văn hóa cũng cho rằng người dân tộc thiểu số “chân chất thật thà” (Noble Savage) thường dễ dàng đồng thuận và đón nhận bất kỳ sự chú trọng nào từ xã hội đa số. Không thể phủ nhận rằng việc nội tâm hóa các diễn ngôn kỳ thị văn hóa có thể dẫn đến tâm lý này, nhưng cũng có rất nhiều cộng đồng có sự nhạy bén với các hành vi “tôn vinh” tái lập định chế quyền lực giữa họ và nhóm đa số.

    c. Sáng tạo

    Ngoài 2 khía cạnh kinh tế và truyền thông, chia sẻ quyền lực sáng tạo cũng có thể giảm thiểu đáng kể rủi ro chiếm dụng. Trong các thực hành sáng tạo xuyên văn hoá, nhà thiết kế và nghệ sĩ thường nắm độc quyền sáng tạo, trong khi cộng đồng thiểu số chỉ đóng vai trò cung cấp chất liệu hoặc cảm hứng sáng tác. Tương tác một chiều này coi thực hành văn hóa thiểu số như 1 nguồn tài nguyên thụ động tách biệt khỏi cộng đồng con người tạo dựng ra nó, để nghệ sĩ đến lấy và nhào nặn thành 1 sản phẩm phù hợp hơn với thẩm mỹ “tiêu chuẩn.” Việc này tái thiết lập hệ thống thứ bậc trong hệ chính trị thẩm mỹ (politics of aesthetics – Rancière 2000) và củng cố niềm tin rằng thẩm mỹ văn hóa gốc của các nhóm thiểu số cần được nghệ sĩ hay nhà thiết kế đến từ ngoài cộng đồng biến tấu để “nâng giá trị.” Tuy cách làm này mang lại những lợi ích thực tế trong thị trường kinh tế văn hóa và sáng tạo, nó chưa thực sự mở rộng phạm vi cảm thụ thẩm mỹ của công chúng đa số để tiếp cận được thẩm mỹ gốc của nhóm thiểu số.

    Tuy nhiên, ngày càng có nhiều nghệ sĩ và nhà thiết kế nhận ra sức mạnh sáng tạo đến từ việc đồng sáng tác cùng cộng đồng nghệ nhân, như nhạc sĩ Trí Minh hay nhà thiết kế Vũ Thảo. Chia sẻ của các nghệ sĩ này cho thấy sự chuyển dịch từ cách làm việc truyền thống là nghệ sĩ yêu cầu nghệ nhân làm theo ý mình sang việc kết hợp tiếng nói sáng tạo của nghệ nhân để tạo ra 1 sản phẩm mang tư duy thẩm mỹ của cả 2 bên. Các cộng đồng thiểu số có thể có những góc nhìn khác với nhà thiết kế (NTK) hay nghệ sĩ người Kinh, và chính sự khác biệt này có thể tăng thêm sự mới mẻ đột phá cho sản phẩm thay vì hạn chế nó. Như nhà thiết kế Vũ Thảo chia sẻ, tính sáng tạo đến từ chính những tương tác đa chiều giữa nghệ sĩ/NTK và nghệ nhân/cộng đồng. Đồng sáng tác là một quá trình đàm phán và thích ứng liên tục và xuyên suốt, chứ không chỉ dừng ở sự cho phép của cộng đồng ở điểm đầu và cuối của quá trình sáng tạo. Nó có thể giúp cân bằng lại tương quan quyền lực sẵn có bằng cách tạo ra không gian để cộng đồng thiểu số tham gia trực tiếp vào quá trình sáng tác. Như vậy, trong sản phẩm cuối cùng, thứ mà công chúng tiếp cận được không chỉ là các thực hành văn hóa mà còn là cả tiếng nói và tư duy thẩm mỹ của các cộng đồng chủ thể. Tuy nhiên, nó cũng đòi hỏi sự cởi mở và niềm tin đến từ cả 2 bên, và nghệ sĩ thường phải đầu tư nhiều thời gian và công sức hơn so với sáng tác cá nhân. Ngoài ra, mặc dù đồng sáng tạo có thể giảm bớt đáng kể rủi ro chiếm dụng văn hóa, nhưng không có nghĩa là nó xóa bỏ hoàn toàn định chế quyền lực sẵn có. Tùy theo cách thức tương tác và mức độ chia sẻ, nó vẫn có thể tái lập định chế quyền lực ở một số khía cạnh nhất định.

    Chị Vũ Thảo đang thử nghiệm thuốc nhuộm tự nhiên trong studio (Nguồn: Julie Vola)

    Về trường hợp Lê Cát Trọng Lý

    Quay lại với vụ việc gần đây nhất liên quan đến chiếm dụng văn hoá là dự án Các khúc ca Việt cổ của Lê Cát Trọng Lý, cá nhân tôi không ngạc nhiên khi các lùm xùm nổ ra sau phỏng vấn của Lý với Vietcetera. Tuy là fan của Lý đã lâu, lần đầu nhìn thấy thông báo dự án trên trang Facebook tôi đã ít nhiều có dự cảm rằng dự án này có thể sẽ có vấn đề nếu không khéo léo. Dự cảm này phần nào dấy lên sau lần tôi đi dự concert của Lý và nhận ra Lý mặc một chiếc áo của người Dao đỏ ở Sapa. Lý nói về chiếc áo với một niềm thích thú hồn nhiên, bằng những từ ngữ như “hay” và “vui”, nhưng tuyệt nhiên không nhắc gì đến gốc gác văn hoá của nó. Tôi bỗng nhiên thấy mình có chút hẫng. Lý đã dành niềm yêu mến cho chiếc áo đó để mang lên sàn diễn, cũng đã dành thời gian để nói về nó với khán giả, thì giá như Lý chỉ cần đi thêm một bước là nhắc đến nguồn gốc của nó thì tôi nghĩ là sẽ trọn vẹn hơn. Khi xem các clip nhỏ Lý quay về quá trình thu thập và phối lại dân ca người Mông (trước bài phỏng vấn với Vietcetera), tôi cũng cảm nhận được ít nhiều sự “hồn nhiên” này của Lý.

    Tôi nghĩ rằng bản thân mong muốn tôn vinh dân ca của các tộc người thiểu số của Lý là rất đáng quý, nhất là khi cô tìm đến làm việc trực tiếp với các cộng đồng và cố gắng đưa sự hiện diện của họ vào buổi biểu diễn. Tuy nhiên, cách làm của Lý có đôi phần ngây thơ. Như việc đưa các nghệ nhân thiểu số lên sân khấu có thể xem là một bước đầu nỗ lực, nhưng chưa thật sự thấu đáo trong trong một số trường hợp. Như chị Nguyễn Thị Bích Tâm, cố vấn chương trình dân tộc thiểu số của Viện iSEE, chia sẻ trong buổi tọa đàm của Mạng lưới Tiên phong, sân khấu là một không gian mang nhiều quyền lực vô hình và hữu hình. Việc đưa các nghệ nhân thiểu số lên sân khấu một cách hình thức (tokenism) có thể gây áp lực tâm lý, dễ khiến họ trở thành đối tượng cho những tiếng cười và cái nhìn hiếu kỳ về sự bối rối “ngô nghê” của mình. Thay vì là những nhân vật quan trọng trong buổi diễn, họ ít nhiều trở thành đạo cụ (prop) cho sự sáng tạo cá nhân của nghệ sĩ.

    Là một nghệ sĩ nổi tiếng, Lý đã có thể hỗ trợ đưa tiếng nói của các cộng đồng thiểu số đến gần với công chúng hơn bằng cách hợp tác với các tổ chức hay hội nhóm sẵn có trong cộng đồng. Khi đọc thông báo về dự án, tôi đã rất mong Lý sẽ hợp tác với Mạng lưới Tiên Phong hay Action for Hmong Development (AHD), những tổ chức hoạt động văn hoá xã hội do chính người trong cộng đồng làm chủ và có tâm huyết sâu sắc với việc bảo tồn văn hóa của mình (nhất là AHD đã từng làm dự án về dân ca người Mông). Các tương tác xuyên văn hóa có thể mang đến cơ hội rất tốt để các nhóm thiểu số, vốn không nhiều sự hiện diện có chủ đích trong xã hội, có thể đưa ra tiếng nói và góc nhìn sáng tạo của mình đến với công chúng. Tôi hiểu rằng cái tôi cá nhân trong sáng tạo nghệ thuật là việc bình thường, và cũng không cho rằng các nghệ sĩ phải đóng vai nhà hoạt động xã hội. Nhưng ngay cả về khía cạnh sáng tạo, nếu Lý đi sâu thêm một bước để tiếp nhận những góc nhìn nghệ thuật từ chính các cộng đồng thay vì diễn dịch lại dân ca của họ thành một sản phẩm hay theo kiểu “người Kinh,” thì biết đâu chúng ta đã được hưởng những tác phẩm đồng sáng tạo mới mẻ và thú vị hơn nữa. Lý bắt đầu dự án với một ước muốn rất đẹp và cũng đã có những bước đầu đi đúng hướng, nhưng tôi có chút tiếc nuối khi cô đã bỏ lỡ cơ hội để đi xa hơn nữa.

    Tuy nhiên, tôi cũng cho rằng một số ý kiến lên án việc Lý chiếm dụng văn hoá cũng có thể đi xa hơn một bước. Không khó để nhận ra tâm thế “hồn nhiên” của Lý là rất phổ biến chứ không phải chỉ của một mình Lý, nhưng tại sao nó phổ biến thì các ý kiến phê phán này chưa chỉ ra sâu hơn. Do đó, thay vì phê phán cá nhân Lý, vụ việc này có thể là một cơ hội tốt để lật lại các vấn đề mang tính hệ thống trong bối cảnh cụ thể ở Việt Nam khi áp dụng lý thuyết hậu thuộc địa và nội thuộc địa. Từ đâu mà các tộc người thiểu số ở Việt Nam trở thành danh tính “người Việt”, như trong tên gọi dự án của Lý? Hệ thống diễn ngôn thống soái ở Việt Nam ảnh hưởng như thế nào đến cách các nghệ sĩ tiếp cận và tương tác với các cộng đồng thiểu số trong thực hành sáng tạo xuyên văn hoá? Có những điểm gì giống và khác khi nhìn về các quốc gia dân tộc đa văn hoá trong khu vực châu Á và Đông Nam Á? Đặt ra những câu hỏi này không phải để biện minh cho Lý, mà để nhìn rộng ra và thấy rằng Lý cũng đã có nhiều sự cố gắng đúng hướng, và sự “hồn nhiên” của cô không phải tự nhiên mà có, mà sinh ra từ các cấu trúc xã hội lớn hơn.

    Hạn chế 

    Có thể thấy chiếm dụng văn hóa là một khái niệm hữu ích để nhìn ra các tương quan quyền lực ẩn dưới những hành vi tưởng chừng vô hại. Tuy nhiên nó cũng dễ dẫn đến một cách nhìn tương đối hạn chế về sáng tạo xuyên văn hóa theo tư duy lưỡng nguyên giữa chiếm dụng (appropriation) và tôn vinh (appreciation). Trên thực tế, có thể hình dung các tương tác sáng tạo xuyên văn hóa trong một phổ liên tục (spectrum), với đa phần các thực hành nằm trong vùng xám giữa 2 điểm cực này. Rất nhiều thực hành mang cả các yếu tố chiếm dụng và tôn vinh cùng lúc. Ví dụ, nhiều trường hợp xuất phát từ mong muốn tôn vinh văn hóa thiểu số, nhưng do thiếu kiến thức và sự nhạy cảm văn hóa nên không đặt quyền tự chủ và tự quyết của cộng đồng làm trọng tâm, hoặc mặc định rằng họ có cùng mong muốn và tư duy về bảo tồn. Theo Susan Scaffidi (2006, 8-9), việc tôn vinh các yếu tố văn hóa của các nhóm người “khác” không phải lúc nào cũng đi liền với việc đề cao sự hiện diện và tiếng nói thật sự của chính những người “khác” này. Trên thực tế, đây là một hiện tượng phổ biến trong quá trình hòa nhập toàn cầu và thương mại hóa văn hóa. Nhìn các tương tác đa văn hóa trong một phổ liền mạch thay vì phân loại lưỡng cực cho phép chúng ta xem xét kỹ hơn các sắc thái khác nhau trong sáng tạo xuyên văn hóa tuỳ theo bối cảnh cụ thể, từ đó đưa ra các đánh giá tinh tế hơn thay vì kết luận tuyệt đối.

    Ngoài ra, các vụ việc về chiếm dụng văn hóa hiện nay thường chỉ hiện lên trong truyền thông về sản phẩm cuối cùng. Thế nhưng, để có thể đánh giá được xác đáng cần đến các thông tin cụ thể về cả quá trình thực hành sáng tạo. Có những thương hiệu hay nghệ sĩ đưa ra hình ảnh rất tốt, nhưng thực hành bên trong có những vấn đề gì thì chỉ người trong cuộc mới rõ, hoặc cũng có những người chú trọng ý kiến cộng đồng trong quá trình hoạt động nhưng lại mắc lỗi truyền thông. Những thông tin bên trong như vậy lại ít khi đến được với công chúng, nên đa phần các thực hành sáng tạo đa văn hóa đòi hỏi chúng ta đặt những câu hỏi sâu hơn trước khi đưa các đánh giá nhanh chóng và tuyệt đối.

    Kết

    Chiếm dụng văn hoá là một lời nhắc nhở cần thiết để các nghệ sĩ hay thương hiệu cẩn trọng hơn trong tương tác của mình với các cộng đồng thiểu số. Bên cạnh những yếu tố rõ ràng như tìm hiểu kỹ về văn hoá gốc, xin phép cộng đồng chủ thể và trích đúng nguồn gốc văn hoá, việc chia sẻ quyền lợi và quyền lực trong sáng tạo xuyên văn hoá cũng rất quan trọng. Nó góp phần dịch chuyển cán cân quyền lực và hỗ trợ đưa tiếng nói của các cộng đồng thiểu số đến gần công chúng hơn. Sự thiếu nhạy cảm và thấu đáo của các nghệ sĩ, nhà thiết kế hay doanh nghiệp người Kinh nhiều khi đến từ việc thiếu kinh nghiệm tiếp xúc và làm việc sâu với các cộng đồng thiểu số. Do đó, việc hợp tác với các tổ chức hoạt động văn hoá xã hội sẵn có trong các cộng đồng có thể mang đến những góc nhìn và kiến thức cần thiết cho các tương tác sáng tạo xuyên văn hoá. Tuy nhiên, chiếm dụng văn hoá nên được xem là một cơ hội để mở ra các đối thoại đa phương với mục đích trao đổi và thấu hiểu hơn là một thước đo đạo đức tuyệt đối để tránh rơi vào khuynh hướng săn phù thuỷ (witch-hunt) cực đoan.

    Trích dẫn

    Anderson, Benedict. Imagined Communities: Reflections on the Origin and Spread of Nationalism. Verso, 2006 [1983].

    Bayly, Susan. French Anthropology and the Durkheimians in Colonial Indochina. Modern Asian Studies, vol. 34, no. 3, 2000, pp. 581-622.

    Coutts-Smith, Kenneth. “Some General Observations on the Concept of Cultural Colonialism.” The Myth of Primitivism, edited by Susan Hiller. Routledge, 1991 [1976].

    Derrida, Jacques, and Maurizio Ferraris, A Taste for the Secret. Polity Press, 2001.

    Evans, Grant. “Internal Colonialism in the Central Highlands of Vietnam.” Sojourn: Journal of Social Issues in Southeast Asia, vol. 7, no. 2, 1992, pp. 274-304….

    #chiếmdụngvănhóa #sángtạo #vănhóa #xãhộithoại

  • Chiếm dụng văn hóa ở Việt Nam (P1) – Hà Yến Chi

    Chiếm dụng văn hóa ở Việt Nam (P1) – Hà Yến Chi

    Trong những năm gần đây, chủ đề chiếm dụng văn hóa (nguyên gốc: cultural appropriation) đã thu hút nhiều sự chú ý từ giới sáng tạo và nghiên cứu, cũng như các cộng đồng văn hoá và công chúng nói chung. Tuy việc vay mượn các yếu tố văn hóa của các tộc người thiểu số trong sáng tạo và kinh doanh tại Việt Nam là một hiện tượng không hề mới, nhưng dường như đến vụ việc Biti’s năm 2021 thì cái tên “chiếm dụng văn hóa” mới chính thức được nhắc đến trong hàng loạt các tranh luận trên truyền thông. Đa phần các ý kiến phê bình cho rằng các vay mượn văn hoá không đúng cách có thể tác động xấu đến cộng đồng chủ thể là các tộc người thiểu số vốn đã bị lề hóa trong một xã hội do người Kinh chiếm đa số.

    Giày Biti’s gây tranh cãi về chiếm dụng văn hóa của cộng đồng người Chăm (Nguồn ảnh: Biti’s Việt Nam)
    Giày Biti’s gây tranh cãi về chiếm dụng văn hóa của cộng đồng người Chăm (Nguồn ảnh: Biti’s Việt Nam)

    Nguồn gốc khái niệm chiếm dụng văn hóa

    Cụm từ “cultural appropriation” được nhắc đến nhiều trên internet từ khoảng những năm đầu 2010s ở các nước phương Tây. Bản thân thuật ngữ này trong học thuật vốn mang nghĩa trung lập, dùng để chỉ chung các hiện tượng vay mượn các thực hành và tri thức văn hóa, sản phẩm trí tuệ, di tích và di sản,… từ một nhóm văn hóa khác văn hoá gốc của mình (Young 2008). Trước đây, từ “appropriation” còn được dùng để chỉ việc một nhóm yếu thế tiếp nhận các thực hành văn hóa từ nhóm ưu thế và biển đổi nó cho phù hợp với hoàn cảnh của mình như một chiến lược để thích nghi và tồn tại trong một xã hội không đảm bảo quyền bình đẳng cho họ.

    Khái niệm vay mượn văn hoá với hàm ý tiêu cực như hiện nay xuất phát từ các phân tích hậu thuộc địa (post-colonialism) trong các thập niên 70-80s để phê phán các hành vi thực dân văn hóa, khi nhóm ưu thế lấy đi không chỉ tài nguyên tự nhiên hay vật chất, mà cả tài nguyên văn hoá từ nhóm yếu thế để phục vụ cho mục đích riêng (Coutts‐Smith 1976). Đến những năm 1990s, thuật ngữ “chiếm dụng văn hoá” trở nên phổ biến khi nhắc đến hiện tượng này (Ziff & Rao 1997). Nó chỉ ra các bạo lực ngầm về văn hóa dựa trên sự mất cân bằng quyền lực mang tính hệ thống giữa các tộc người trong lịch sử của chủ nghĩa thực dân. Một số học giả gọi những hành vi vay mượn mang tính tiêu cực này cụ thể hơn là “objectionable cultural appropriation” (Young 2008) (tạm dịch : chiếm dụng văn hóa đáng lên án) hoặc “cultural misappropriation” (Scaffidi 2005) (tạm dịch : sai phạm chiếm dụng văn hóa).

    Một số luận điểm chính về chiếm dụng văn hóa

    Phân loại thực hành chiếm dụng văn hóa 

    James O. Young (2008) phân các thực hành tiếp dụng văn hoá thành 3 loại tuỳ theo đối tượng được vay mượn: vật chất, nội dung, và chủ thể (góc nhìn người trong cộng đồng). 

    1. Loại thứ nhất liên quan đến các vật thể hữu hình, ví dụ như việc các bảo tàng lớn ở các nước phương Tây vẫn nắm giữ nhiều cổ vật từ các nước thuộc địa cũ. 

    2. Loại thứ hai tập trung vào các tài nguyên văn hoá vô hình như các thực hành, nghỉ lễ, nghệ thuật, tri thức,… Đa phần các hành vi chiếm dụng văn hoá được nhắc đến trên mạng xã hội hiện nay rơi vào loại này. 

    3. Loại thứ ba xảy ra khi nhóm ưu thế lấy đi tiếng nói của nhóm yếu thế để nói về chính họ, ví dụ như hiện tượng whitewashing (dùng diễn viên da trắng để đóng các nhân vật da màu) ở Hollywood. 

    Richard A. Rogers (2006) lại phân các hành vi tiếp dụng thành 4 loại dựa theo tương quan quyền lực và chiều hướng vay mượn: trao đổi (khi nhóm vay mượn và nhóm chủ thể ngang nhau về quyền lực), thống trị (khi nhóm yếu thế vay mượn từ nhóm ưu thế), bóc lột (khi nhóm ưu thế vay mượn từ nhóm yếu thế), và xuyên văn hoá (khi thực hành mang tính đa tầng đa chiều và hỗn hợp, thường xảy ra trong quá trình toàn cầu hoá và chủ nghĩa tư bản xuyên quốc gia).

    Các luận điểm chính về thực hành chiếm dụng văn hóa

    Nhiều nhà nghiên cứu và phê bình nghệ thuật đã chỉ ra một số luận điểm để đánh giá một thực hành vay mượn văn hóa có phải là sai phạm chiếm dụng hay không. Những luận điểm này có thể tổng hợp thành 4 loại chính như sau (Young 2008, Siems 2019, Nguyen & Strohl 2019): 

    1. tổn hại (bao gồm sai lệch hay xuyên tạc thông tin, tái diễn các hình ảnh rập khuôn, thiệt hại kinh tế)

    2. xúc phạm (bao gồm thiếu tôn trọng, sử dụng sai cách, vi phạm tính thiêng hoặc tính riêng tư, thiếu nhạy cảm về lịch sử văn hoá)

    3. xâm phạm quyền sở hữu (không minh bạch nguồn gốc, không có sự cho phép của cộng đồng)

    4. suy giảm chất lượng (về thẩm mỹ hay tính chân thực (authenticity)) 

    Các lập luận này không nhất thiết tách bạch với nhau, mà có thể cùng tồn tại trong các trường hợp chiếm dụng. Ví dụ, vụ việc Fband sử dụng khăn piêu của người Thái làm khố khi biểu diễn đã xúc phạm đến tính thiêng của chiếc khăn piêu đội đầu với người Thái, đồng thời có thể phát tán thông tin sai lệch về cách dùng và ý nghĩa của nó. Hay như vụ việc tổ chức ăn tiệc tại tháp Po Klong Garai năm 2020 vừa xâm phạm đến quyền sở hữu văn hoá vừa thiếu tôn trọng luật tục tâm linh của cộng đồng Chăm tại Ninh Thuận.

    Trong các lập luận này, hai tiêu chí được cho là quan trọng nhất để xem xét tính chiếm dụng của một thực hành vay mượn văn hoá là tương quan quyền lực và ý kiến cộng đồng chủ thể.

     

    Tiêu chí về tương quan quyền lực 

    Lý thuyết về “tính áp chế” (oppression account) của Erich Matthes (2019) ưu tiên yếu tố thứ nhất, rằng để đánh giá một thực hành vay mượn có phải là chiếm dụng hay không, cần cân nhắc xem nó có tái diễn hoặc làm tăng thêm khoảng cách quyền lực sẵn có giữa nhóm vay mượn và nhóm chủ thể hay không. Lý thuyết này lý giải tại sao chiếm dụng văn hóa thường xảy ra khi nhóm đa số hoặc chiếm ưu thế vay mượn từ nhóm thiểu số hay yếu thế, mà không phải ngược lại. Nó cũng cho rằng một hành vi có thể bị coi là chiếm dụng mà không cần nhóm chủ thể phải trực tiếp lên tiếng. Do đó, nó đặc biệt hữu dụng trong những trường hợp mà cộng đồng yếu thế ít cơ hội phản biện trực tiếp, hoặc khi tiếng nói của họ ngay cả khi cất lên cũng khó đến được với công chúng. (Lý thuyết gia hậu thuộc địa nổi tiếng Gayatri Chakravorty Spivak đã phân tích hiện tượng “mất tiếng” này trong bài luận Can the subaltern speak?). Lý thuyết của Matthes cũng xét đến tính giao thoa của tương quan quyền lực, bao gồm không chỉ văn hoá tộc người mà cả địa vị kinh tế xã hội, trình độ học vấn, địa lý, v.v… Theo đó, chênh lệch quyền lực giữa cộng đồng bản địa với một tập đoàn lớn hay thương hiệu quốc tế và với một thương lái địa phương hay thương hiệu thủ công quy mô nhỏ sẽ rất khác nhau.

    Tuy nhiên, lý thuyết này ít cân nhắc đến rủi ro chiếm dụng văn hóa giữa các nhóm thiểu số với nhau. Nhà thiết kế Sa Bình (người Mông quê gốc ở Điện Biên, hiện đang làm việc tại Sài Gòn) cho biết cũng có một số thương buôn người Mông kinh doanh thổ cẩm dân tộc Thái nhưng nói là vải người Mông, gây ra ý kiến phản đối trong cả cộng đồng người Mông và người Thái. Ngoài ra, tương quan quyền lực giữa các tộc người không phải lúc nào cũng rõ ràng mà có thể thay đổi tuỳ theo phạm vi quan sát. Một nhóm có thể là yếu thế trong xã hội quốc gia, nhưng lại chiếm ưu thế ở địa phương.

    Ví dụ, nghiên cứu của Sarah Turner (2007) chỉ ra rằng trong chuỗi cung ứng thương mại thổ cẩm ở Sapa, ngoài người Kinh, người Tày cũng thường chiếm ưu thế và nắm giữ những vị trí có lợi nhuận cao hơn nhiều so với người Mông và người Dao – những người trực tiếp chế tác nhưng có xu hướng kinh doanh nhỏ theo cá nhân hoặc hộ gia đình.

    Thổ cẩm đầy sắc màu tại Sapa và câu chuyện rủi ro chiếm dụng văn hóa 
    Thổ cẩm đầy sắc màu tại Sapa và câu chuyện rủi ro chiếm dụng văn hóa 

    Tiêu chí về ý kiến của cộng đồng chủ thể

    Lý thuyết về “tính thân mật” (intimacy account) của Thi C. Nguyen và Matthew Strohl (2019) lại tập trung vào tiêu chí thứ hai – sự đồng thuận của chủ thể văn hóa. Nó cho rằng có những thực hành văn hóa mang tính “thân mật,” tức là có vai trò gắn kết những người cùng cộng đồng trong một căn tính tập thể, và việc người ngoài xâm phạm đến các thực hành này dễ trở thành chiếm dụng. Theo lý thuyết này, cộng đồng chủ thế nắm quyền quyết định cao nhất để đánh giá một thực hành có phải là chiếm dụng hay không, bất kể bản chất của nó là như thế nào.

    Tuy nhiên, ý kiến cộng đồng chủ thể không phải lúc nào cũng hiển lộ và thống nhất. Tính chiếm dụng càng cao thì cộng đồng càng dễ có tiếng nói chung. Do đó, các trường hợp xúc phạm văn hóa hay xâm phạm tính thiêng thường thu hút phản ứng rõ ràng hơn từ phía cộng đồng. Thế nhưng, đối với các thực hành tiếp dụng văn hóa nằm ở vùng xám, ngay cả cộng đồng chủ thể cũng khó đưa ra phán quyết rõ ràng, chưa kể ngay trong cùng một cộng đồng cũng có các luồng ý kiến khác nhau. Do vậy, một thực hành có thể nhận được cả sự đón nhận và phản đối từ cộng đồng chủ thể.

    Ví dụ, qua trao đổi với Mùa Mua và Tuam Khaab, 2 cựu thành viên của AHD (Action for Hmong Development) và hiện đang điều hành dự án Ná Nả, bộ phim “Lặng yên dưới vực sâu” về người Mông ở Hà Giang nhận được khá nhiều sự ủng hộ từ khán giả trẻ người Mông, nhưng cũng có nhiều ý kiến cho rằng đây là chiếm dụng chủ thể văn hoá, vì đoàn làm phim và diễn viên người Kinh khó có thể khắc họa chính xác về cuộc sống và góc nhìn của người Mông.

    Bộ phim Chuyện của Pao chưa tập trung khai thác vào tiếng đàn môi của Pao mà tập trung vào tiếng sáo của Chử, làm lệch đi góc nhìn về giới.
    Bộ phim Chuyện của Pao chưa tập trung khai thác vào tiếng đàn môi của Pao mà tập trung vào tiếng sáo của Chử, làm lệch đi góc nhìn về giới.

    Bài viết của anh Tuam Khaab về Văn hóa dân tộc thiểu số trên điện ảnh Việt được viện iSee đăng 

    Bài viết phân tích của Tuam Khaab về văn hóa Mông qua điện ảnh Việt Nam trên báo Nghệ An

    (Còn tiếp)

    #chiếmdụngvănhóa #sángtạo #vănhóa #xãhộithoại

  • Nỗi niềm Freelancer: Làm gì để cha mẹ hiểu?

    Nỗi niềm Freelancer: Làm gì để cha mẹ hiểu?

    Trong những năm gần đây, tốc độ phát triển nhanh chóng của mạng xã hội đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn cho người dùng. Chính vì thế, một xu hướng việc làm mới dần xuất hiện và trở nên phổ biến hơn bao giờ hết, đó là freelancer. Tuy nhiên dù kiếm được nhiều tiền và có nhiều cơ hội thăng tiến nhưng những freelancer lại vấp phải ý kiến trái chiều từ gia đình và bạn bè.

    Freelancer thế hệ Gen Z – Thế hệ "làm chủ"

    SDGsと出会って仕事が変わった 若者と大人のギャップに危機感、今やらなければ (前編) | SEAFOODLEGACY TIMES

    Tiếp xúc với mạng internet càng nhiều, thế hệ trẻ ngày nay càng có xu hướng đưa ra những yêu cầu “cơ bản” của mình về một nơi làm việc lý tưởng. Lấy ví dụ trong một trạng thái được đăng tải tại trang “Insight mất lòng” đã nhận được nhiều sự đồng tình của người theo dõi. Có thể thấy được, ngày nay, bên cạnh những nhận thức về sức khỏe tinh thần của bản thân, gen Z còn chủ động đưa ra yêu cầu về chất lượng nơi làm việc, chế độ lương thưởng hay thậm chí là cơ hội việc làm của chính mình.

    “Việc tìm kiếm một nơi làm việc tôn trọng các giới hạn và nhu cầu của nhân viên rất quan trọng với thế hệ ngày nay”, Lauren Stiller Rikleen, Chủ tịch Rikleen Institute for Strategic Leadership (Viện nghiên cứu lãnh đạo chiến lược Rikleen) chia sẻ với Insider. “Điều đó sẽ không thay đổi. Với mỗi thế hệ mới, điều đó sẽ ngày càng mạnh mẽ hơn”. [1]

    Và một khi mà công ty, doanh nghiệp không thể đáp ứng nhu cầu đó của thế hệ trẻ ngày nay, họ sẽ không ngần ngại mà tìm kiếm một công việc khác phù hợp hơn. Cũng chính lúc này, vị thế của nhân viên gen Z trở thành thế chủ động hơn trong công việc, họ chủ động tìm kiếm việc làm, chủ động đưa ra yêu cầu đãi ngộ tương ứng trong công việc đồng thời chủ động nghỉ việc vào thời điểm mà họ cảm thấy không còn phù hợp nữa.

    Cha mẹ mong muốn gì ở con?

    Trong văn hoá gia đình Á Đông, cha mẹ thường có xu hướng bảo bọc con, mong con đi theo con đường mà cha mẹ cho là đúng đắn. Ông bà ta ngày xưa có câu: “Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó” để cho thấy được thái độ chở che, mong muốn theo sát và thay con quyết định những con đường mà con “phải đi mới là tốt cho con”. Vì vậy, trong mắt cha mẹ, nghề nghiệp của con cũng nằm trong phạm vi cần được cha mẹ xét duyệt. 

    Theo như nội dung trong hình có thể biết được trong mắt cha mẹ, sáng đến công ty, chiều đi về nhà, đi làm theo giờ hành chính là có công ăn việc làm ổn định. Còn những người freelancer, thời gian làm việc không giới hạn, suốt ngày chỉ ru rú ở nhà “làm việc” là thất nghiệp, lông bông, không hề ổn định chút nào. 

    Freelancer – Cơ hội hay rào cản

    Freelance, hay còn gọi là nghề tự do. Những người làm việc freelance, được gọi là freelancer. Freelancer sẽ không bị giới hạn bởi những quy định của công ty, môi trường hay địa điểm và thời gian làm việc.

    45 Inspiring Illustrations About Workspaces, Creativity and Art

    Một trong những lý do khiến xu hướng làm việc tự do xuất hiện và phổ biến là thời đại internet phát triển nhanh chóng khiến cho việc tìm kiếm và bàn giao công việc qua mạng trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Đặc biệt là khi có khá nhiều bạn trẻ trong thế hệ trẻ ngày nay không chấp nhận những điều lệ trong quy định của công ty, mong muốn làm việc thoải mái, cân bằng giữa việc đi làm và đi chơi. Chính vì thế mà xu hướng freelancer bắt đầu phổ biến rộng rãi và phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam trong những năm gần đây.

    Làm freelancer, các bạn trẻ có nhiều thời gian bên gia đình hơn, không bị gò ép trong một môi trường làm việc hay những quy củ bắt buộc phải tuân theo.  Tính chất làm việc tự do và thoải mái của freelancer hiện nay đã thu hút nhiều sự chú ý về cơ hội việc làm không chỉ cho thế hệ trẻ mà còn thu hút cả những nhà tuyển dụng khi họ không cần phải chi trả những chi phí bảo hiểm nào cho những nhân sự freelancer. 

    Tuy nhiên, freelancer vẫn là một lĩnh vực khá mới tại Việt Nam, không quá nhiều người có thể hiểu nó một cách tường tận được. 

    Freelancer – Làm gì để cha mẹ hiểu?

    1. Nỗi sợ đến từ đâu?

    Có thể nói, việc bạn có thể gắn bó dài lâu với một công việc phụ thuộc ít nhiều vào sự ủng hộ của gia đình. Trong tập 1 của podcast mùa 3 Thử Thành Thật, khách mời Hà Thiên Kim đã chia sẻ về quyết định bỏ học tại trường Nhân Văn đã nhận được sự phải đối từ cha mẹ mình “Muốn làm gì thì làm, phải học cho xong để lấy cái bằng đi đã.”

    Bởi vì trong mắt bất kỳ vị phụ huynh nào, sự ổn định là trên hết, những quyết định về việc làm freelancer thường không ổn định về giờ giấc, nơi làm việc đã trở thành một cái nghề hết sức “lông bông” trong mắt cha mẹ. Chính vì vậy, biết được nguồn cơn nỗi lo lắng của cha mẹ sẽ có thể giúp bạn thuyết phục được họ.

    2. Xây dựng niềm tin

    Sau khi đã hiểu được nguồn gốc của nỗi lo sợ của cha mẹ về nghề freelancer, hãy tiến hành xây dựng niềm tin với bậc phụ huynh của mình. 

    Nếu cha mẹ lo lắng về vấn đề tài chính của bạn, hãy chứng minh cho cha mẹ mình bằng cách cho họ xem về chế độ lương thưởng mà bạn nhận được cũng như cơ hội việc làm và kế hoạch làm việc mà bạn đã có được khi làm tại vị trí freelancer.

    Nếu vấn đề làm cha mẹ lo lắng lại là giờ giấc sinh hoạt của bạn khi làm freelancer, hãy nói cho cha mẹ hiểu những lợi ích về thời gian mà freelancer có thể đạt được, một trong số đó là có nhiều thời gian bên gia đình hơn.

    Còn nếu như cha mẹ lo lắng về việc liệu bạn có thể bị đuổi việc hay thất nghiệp khi làm freelancer không thì hãy giải thích cho cha mẹ rằng cơ hội việc làm của freelancer là cực kỳ to lớn. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp có xu hướng tuyển dụng freelancer không chỉ vì kinh nghiệm làm việc của họ mà còn suy xét đến những chi phí mà công ty không cần phải chi trả như nhân viên toàn thời gian.

    3. Thoả hiệp với sự thật

    Và cuối cùng, khi đã giải bài toán lo lắng của phụ huynh, nếu như cha mẹ chấp nhận và ủng hộ bạn, thì còn gì tuyệt vời hơn nữa. Nhưng nếu, cha mẹ vẫn không đồng ý với bạn thì sao? Điều duy nhất cần làm lúc đó là khi được hỏi thăm về công việc freelancer, hãy khéo léo trả lời những điều được cho là ổn định trong mắt cha mẹ như vấn đề lương thưởng hay đơn giản là việc các bạn vẫn đang cảm thấy hạnh phúc và thoải mái với chính công việc freelancer hiện tại của mình.

    Đây chỉ là một vài giải pháp mà bạn có thể tham khảo để có thể thuyết phục được gia đình của mình về nghề nghiệp mà bạn lựa chọn. Tuy nhiên, “mỗi nhà mỗi cảnh” không phải lúc nào cũng có thể áp dụng các phương pháp trên để giải quyết sự không đồng thuận từ phía gia đình. Điều quan trọng nhất trong quá trình này là sự cảm thông, thấu hiểu và tôn trọng. Bởi lẽ, trong con đường hành trình sự nghiệp, sự ủng hộ của gia đình sẽ là động lực và là hậu phương vững chắc cho mỗi người.

    Nguồn tham khảo:

    [1] Gen Z ngày càng quan tâm và coi trọng sức khỏe tinh thần trong công việc

    #GenZ #season3 #thuthanhthat #hathienkim #meomeotalks #chame #thauhieu #xahoithoai #giadinh #podcast #camthong #freelancer #tontrong

  • Có lẽ chúng ta đang bị “lạm phát hoa hậu”

    Có lẽ chúng ta đang bị “lạm phát hoa hậu”

    Tính từ thời điểm đầu năm 2022 cho đến hiện tại (tháng 7), thì Việt Nam đã có gần 20 cuộc thi hoa hậu diễn ra. Có những sự kiện để quan sát là một điều không phải tiêu cực. Nhưng đà tăng số lượng này đang khiến khán giả than phiền rằng đôi khi họ còn chẳng nhớ tên của người đăng quang. Bên cạnh đó, xã hội cũng đang băn khoăn vấn đề bao nhiêu cuộc thi hoa hậu là đủ và chúng ta đang tạo ra các cuộc thi đó với mục đích gì.

    “Ra ngõ gặp hoa hậu”

    Từ tháng 7 năm nay, công chúng sẽ được đón nhận thêm 3 cuộc thi hoa hậu nữa đó là Hoa hậu các Dân tộc Việt Nam, Hoa hậu Áo dài Việt Nam, Hoa hậu Thể thao Việt Nam.  Còn đến cuối năm, thì có thể điểm qua thêm hơn 7 cuộc thi hoa hậu nữa. Đấy là chưa kể, bên cạnh các cuộc thi tầm cỡ lớn, thì các tổ chức, cũng như các đơn vị hội ngành, công ty giải trí cũng tự mình đi tìm hoa hậu bằng các cuộc thi như Hoa hậu Du lịch Việt Nam Toàn cầu, Hoa hậu Doanh nhân Hoàn vũ,… Rõ ràng, tình trạng này đang khiến thị trường hoa hậu đang trên bờ “lạm phát”, khi công chúng từng rất hứng thú với sự kiện này giờ đây cũng không thể “tiêu hóa” hết. “Ra ngõ gặp hoa hậu” là một câu nói nửa đùa, nửa thật của cư dân mạng để ám chỉ tình trạng này.

    Miss America's History-Makers and Rule-Breakers | The New Yorker
    Các cuộc thi hoa hậu liên tục nối tiếp nhau, dường như không có hồi kết

    Vì sao cho đến tận thời gian này thì tình trạng này mới gây nên sự chú ý nhiều đến thế? Trước Nghị định 144, Việt Nam mỗi năm chỉ có 2 cuộc thi được Cục Nghệ thuật Biểu diễn (thuộc Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) cấp phép để thực hiện. Từ sau thời điểm 2/2021, khi Nghị định 144 xuất hiện, vô số sân chơi lớn nhỏ nở ra như nấm sau mưa. Số lượng hiện nay so với thời kỳ trước đó đã tăng hơn 10 lần, và được dự báo sẽ còn tiếp tục tăng thêm, một phần vì giờ đây các đơn vị tổ chức có thể được cấp phép dễ dàng hơn vì chỉ cần thông qua Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh – nơi tổ chức sự kiện.

    Thi hoa hậu, đời ai đổi?

    Việc tổ chức liên tục các cuộc thi hoa hậu hiện tại vẫn chưa được nhìn thấy rõ những mặt tiêu cực, nhưng những mặt tích cực đã được nhìn thấy rõ. Trước tiên, những sự kiện này đã đóng góp một phần không nhỏ trong việc giúp cho không gian giải trí của người dân Việt Nam trở nên sôi động trở lại, kể từ thời điểm Covid 19. Trên mạng xã hội, vô số các cuộc thảo luận được nổ ra xoay quanh chủ đề cuộc thi hoa hậu. Các hội nhóm về các cuộc thi sắc đẹp đã lê tới hơn 100.000 thành viên. Kể từ khi khái niệm thi hoa hậu ở Việt Nam xuất hiện, chưa bao giờ, công chúng, và cả các fan của những người dự thi lại có nhiều diễn đàn để hoạt động sôi nổi đến thế.

    309 Pageant Queen Illustrations & Clip Art - iStock
    Những người quan tâm không thiếu nơi để cập nhật tin tức giải trí

    Tất nhiên, chính những người tham dự cũng nhận được rất nhiều lợi ích khác, đặc biệt là với các thí sinh đoạt được danh hiệu. Trong một lần livestream, ông Nawat Itsaragrisil – Chủ tịch cuộc thi Hoa hậu Hòa bình Thế giới – Miss Grand International 2021 đã từng tiết lộ chỉ sau 3 tháng đăng quang, Thùy Tiên đã kiếm được gần 100 triệu bath (khoảng 70 tỷ đồng). Dù rằng sau đó bà Phạm Kim Dung – chủ tịch Miss Grand Việt Nam đã đính chính lại con số đó không chính xác, nhưng bà cũng thừa nhận rằng Thùy Tiên đã nhận được nhiều hợp đồng sau khi đăng quang.

    Chia sẻ đầu tiên của Thùy Tiên sau đăng quang Hoa hậu Hòa bình quốc tế
    Khoảnh khắc đăng quang chắc chắn đã khiến cho cuộc sống của hoa hậu Thùy Tiên rẽ sang một hướng mới

    Nguồn: thanhnien.vn

    Có lẽ dòng tiền là một trong những vấn đề trọng tâm nhất của các cuộc thi hoa hậu. Tuy nhiên, theo Youth Inc, người thực sự được hưởng lợi từ những cuộc thi hoa hậu chắc chắn không phải là số đông, mà là ban tổ chức. Đấy mới là nhóm đối tượng thật sự “hái ra tiền” từ các cuộc thi sắc đẹp. Theo Business Insider, các khoản tài trợ thường không được công bố nhưng sẽ thường dao động từ vài trăm nghìn USD đến vài triệu, chục triệu USD; đấy là chưa kể các nhà tài trợ vừa và nhỏ, và các khoản tài trợ bằng hiện vật.

    Để cho dòng tiền ngày càng lớn thêm cũng như đi cùng thời đại “tiền số”, những năm gần đây, các cuộc thi cũng đã tạo nên hệ thống bình chọn tính phí. Câu chuyện Khánh Vân nhận được sự trợ giúp 10.000 vote (quy đổi 20 triệu đồng) từ H’Hen Niê và 1000 vote từ Minh Tú vẫn là một ví dụ điển hình cho điều này.

    Không chỉ thế, các cuộc thi hoa hậu còn bị tai tiếng bởi những câu chuyện bên lề như “mua giải”, “đi cửa sau”… Cuộc thi Miss Earth từng bị vạch trần hậu trường mua giải. Năm 2012, phóng viên tờ Komsomolskaya Pravda giả danh khách hàng để thương lượng với Lorraine Schuck – Chủ tịch Miss Earth, nhận được báo giá vương miện là 4 triệu USD. Sau bê bối đó, cuộc thi cũng chính thức bị loại khỏi hệ thống Miss Grand Slam.

    Các cuộc thi hoa hậu kém chất lượng sẽ sớm bị đào thải

    Chia sẻ với PV Dân trí nhà báo Ngô Bá Lục – giám khảo của nhiều cuộc thi sắc đẹp lại đưa ra góc nhìn riêng. Anh cho rằng chất lượng Hoa hậu tùy thuộc vào từng cuộc thi. Với những cuộc thi lớn, chính thống, uy tín và khách quan thì chất lượng không bị thấp đi mà ngày càng được nâng cao. Ngoài ra, anh cũng cho rằng các cuộc thi sắc đẹp kém chất lượng sẽ sớm bị đào thải.

    Đối với khán giả đại chúng, có lẽ chúng ta sẽ bắt đầu nhìn nhận cuộc thi hoa hậu như một ngành công nghiệp thật sự, với các quy luật thị trường vốn có. Những cuộc thi kém chất lượng sẽ bị đào thải, và những cuộc thi thật sự chất lượng thì sẽ được duy trì và phát triển.

     Nguồn tham khảo: 
    1. “Bội thực” thi nhan sắc: Ra ngõ là gặp… hoa hậu, khán giả phát ngán?

    2. Ảo tưởng vương miện, lạm phát hoa hậu đến… bội thực!

    3. Gần 20 cuộc thi hoa hậu tổ chức trong nước năm nay

    4. Bao nhiêu cuộc thi hoa hậu là đủ?

    5. Các cuộc thi hoa hậu quốc tế kiếm tiền thế nào?

    #thùytiên #hoahậu #lạmphát #ViệtNam #thịtrường #cuộcthi #sắcđẹp #bantổchức

  • Doanh nghiệp Xã Hội giải quyết vấn đề xã hội như thế nào?

    Doanh nghiệp Xã Hội giải quyết vấn đề xã hội như thế nào?

    Những vấn đề nhức nhối trong xã hội 

    Những vấn đề nhức nhối trong xã hội 
    Tối tăm. Chật chội. Ẩm ướt. Không có sóng wifi. 

    Đó là những ngôi nhà bán hầm (một phần của ngôi nhà thấp hơn mặt đường và ở dưới lòng đất) ở Hàn Quốc mà bộ phim Ký Sinh Trùng (Parasite) lấy bối cảnh.

    Những ngôi nhà này không hiếm ở Hàn Quốc, với giá thuê nhà trung bình năm 2020 là 95 triệu won một năm, xấp xỉ 1,7 tỷ VNĐ. 

    Vấn đề giá thuê nhà tăng cao đã trở thành vấn nạn của Hàn Quốc trong những năm gần đây khi giá thuê nhà đã vượt quá khả năng chi trả của nhiều gia đình. Đứng trước thách thức xã hội này, các bạn sinh viên hoặc mới ra trường đi làm là những người chịu áp lực lớn nhất vì không thể chi trả nhà ở. 

    Woozoo – một doanh nghiệp xã hội
    Woozoo – một doanh nghiệp xã hội

    Woozoo – một doanh nghiệp xã hội bắt đầu kinh doanh vào năm 2012 để giải quyết vấn đề này. Họ đề xuất hình thức ở ghép để những người trẻ tuổi có thể dễ dàng tận hưởng cuộc sống ở Seoul và có bạn bè bên cạnh. Woozoo trở thành công ty nhà ở xã hội lớn nhất và phát triển nhanh nhất ở Hàn Quốc với việc mở chi nhánh thứ 100 trong năm 2017, chỉ 5 năm sau khi thành lập. 

    Doanh nghiệp Xã hội là gì? 

    Những doanh nghiệp xã hội (DNXH) đặt mục tiêu, sứ mệnh xã hội lên hàng đầu ngay từ khi thành lập. Họ sử dụng hoạt động kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng như một phương tiện để đạt được mục tiêu xã hội và phần lớn lợi nhuận được tái phân bổ lại cho tổ chức, cộng đồng và mục tiêu xã hội. Những hoạt động của doanh nghiệp xã hội nhằm góp phần giải quyết các vấn đề xã hội trong cộng đồng. 

    Định nghĩa về các DNXH khá đa dạng ở các quốc gia. Ở Việt Nam, pháp luật đã công nhận tính pháp lý của DNXH vào năm 2014 với các tiêu chí sau: 

    1. Là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp 

    2. Mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng 

    3. Sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký 

    Và những câu chuyện về Doanh nghiệp Xã hội 

    Năm 2011 ước tính đã có đến 1000 DNXH hoạt động dưới nhiều hình thức tổ chức và địa vị pháp lý khác nhau theo khảo sát sơ bộ tại ba thành lớn Hà Nội, Đà Nẵng và Hồ Chí Minh. Các DNXH hoạt động đa dạng trên nhiều lĩnh vực và đóng góp vào những mục tiêu phát triển bền vững mà Việt Nam hướng đến. Trong cuộc khảo sát nêu trên thì số lượng người được hưởng do các hoạt động DNXH cao hơn so với doanh nghiệp thông thường. 

    Tuy nhiên các DNXH ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn về nhận thức của xã hội và khung pháp lý hoàn chỉnh, thiếu vốn và khả năng tiếp cận nguồn tài chính, thiếu năng lực quản lý điều hành và chất lượng nhân sự, nhất là trong thời điểm đại dịch khó khăn vừa qua. Đặc biệt, những bạn trẻ tham gia vào những doanh nghiệp xã hội gặp nhiều thách thức về mặt thời gian, công sức và tài chính.

    DNXH AIESEC Việt Nam – thành viên của AIESEC toàn cầu, với sứ mệnh là môi trường quốc tế để người trẻ có thể khai phá và phát triển tiềm năng lãnh đạo của họ, từ đó tạo ra tác động tích cực trên thế giới; cũng đã trải qua những thời điểm cực kỳ khó khăn để có thể lan tỏa được sứ mệnh của mình. Trước đây, AIESEC Việt Nam tổ chức những chuyến tình nguyện ngắn ngày và các cơ hội thực tập toàn cầu cho bạn trẻ Việt Nam và ngược lại. Tuy nhiên trong thời điểm đại dịch khó khăn, tất cả những chuyến thực tập và tình nguyện đều dừng lại. Các bạn trẻ đã phải thay đổi hoạt động bằng cách tổ chức những sự kiện trực tuyến đa dạng để tiếp tục sứ mệnh của mình. Đó là khi các bạn trẻ nhận ra mình mỏng manh như thế nào trước đại dịch và trước những khó khăn của bản thân. 

    Kết luận 

    Doanh nghiệp xã hội đã và đang là một phát kiến giúp cân bằng cả hai mặt thương mại và tác động xã hội bền vững. 

    Muhammad Yunus – nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Hòa bình vì những phát kiến xây dựng kinh tế bền vững tại quê nhà Bangladesh luôn nghĩ về một tương lai ba không: Không Nghèo Đói, Không Thất Nghiệp và Không Ô Nhiễm.

    Ông nhấn mạnh vai trò của Doanh nghiệp xã hội sẽ bẻ gãy sự vô lý của hệ thống kinh tế hiện tại, tập trung vào lòng tốt của con người thay vì ham muốn làm giàu đơn thuần. 

    NGUỒN THAM KHẢO:

    Báo cáo Điển hình Doanh nghiệp Xã Hội tại Việt Nam của Hội đồng Anh năm 2016

    #doanhnghiệpxãhội #vấnđềxãhội #xãhộithoại

  • Thế hệ Trẻ trong Thời Đại COVID-19

    Thế hệ Trẻ trong Thời Đại COVID-19

    Trong suốt 2 năm chiến đấu với đại dịch COVID-19, toàn thế giới đã phải đối mặt với nỗi đau mất mất không chỉ là về con người, của cải mà còn cả tinh thần. Tuy nhiên thế hệ trẻ đặc biệt là thế hệ được nhìn nhận là một thế hệ lo âu như gen Z đã có một cái nhìn đầy tích cực đối với 2 năm đại dịch vừa qua và chuẩn bị kỹ càng cho tương lai sắp tới.

    Thế hệ Trẻ trong Thời Đại COVID-19
    Thế hệ Trẻ trong Thời Đại COVID-19

    Thế hệ Trẻ trong Thời Đại COVID-19

    Thế hệ gen Z vốn được trưởng thành trong môi trường công nghệ phát triển mạnh mẽ. Nhưng đi kèm theo đó là những vấn đề phát sinh của thời đại mới, ta gọi nó là “quá tải” thông tin. Một khi phương tiện truyền thông xã hội trở thành một phần thiết yếu trong cuộc sống, thế hệ trẻ ngày nay dần quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề xảy ra xung quanh mình và các vấn đề “được ghi lại” trên mạng xã hội. Như bài viết Khi bố mẹ không vui vì bạn “vác tù và hàng tổng” đã đề cập rằng thế hệ Z của Việt Nam là nhóm người theo chủ nghĩa đa văn hóa và quan tâm đến các vấn đề xã hội khác nhau gồm trách nhiệm xã hội, các vấn đề môi trường và bình đẳng giới.

    Gen Z – Thế hệ lo âu
    Gen Z – Thế hệ lo âu (Ảnh: Teen Vogue)

    Thế hệ trẻ – Thế hệ đón Chào

    Mượn lời phát biểu từ BTS một nhóm nhạc Hàn Quốc trong bài phát biểu tại Chương trình Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG Moment) tại kỳ họp thứ 76 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (New York, Mỹ): “Đừng nhìn nhận là Thế hệ Mất Mát, hãy gọi đây là Thế hệ Đón Chào”.[1] Có thể nói, 2 năm đại dịch vừa qua là một khoảng thời gian đầy hụt hẫng và bối rối. Nhiều buổi khai giảng và bế giảng đã bị huỷ, các buổi tiệc sinh nhật không được tổ chức hay những kế hoạch du lịch bị hoãn lại đối với ai cũng là một điều cực kỳ khó khăn. Tuy nhiên, đối mặt với những mất mát về vật chất và tinh thần, thế hệ Z khác với “lời đồn đại” về một thế hệ nhạy cảm, lo âu lại giữ được tâm thế tích cực và thái độ sống hạnh phúc.

    Thế hệ Trẻ trong Thời Đại COVID-19
    Thế hệ Z dùng thái độ tích cực đối mặt với đại dịch (Ảnh: Brands Vietnam)

    Đứng trước những mất mát mà đại dịch COVID-19 đem lại, thế hệ Z cũng có thể tìm ra được những ý nghĩa thật sự trong khoảng thời gian bị lãng quên bởi đại dịch. Đây chính là điểm thách thức lớn nhất cho thế hệ trẻ này, liệu rằng họ có thể tự nhìn nhận ra được con đường tương lai của họ hay không hay dần lạc lối trong chính cảm xúc của mình. Dù câu trả lời có như thế nào, mình tin rằng thế hệ tương lai của đất nước, thế hệ trẻ không dễ dàng bỏ cuộc khi họ chưa thực sự nỗ lực. Trưởng thành từ những áp lực đã giúp cho gen Z phần nào đó thay vì lạc lối, họ đang kiến tạo nên một cuộc sống mới trong thời đại COVID-19 này.

    Thế hệ Trẻ trong Thời Đại COVID-19
    Thế hệ trẻ kiến tạo nên cuộc sống mới (Ảnh: Back Button)

    Thế hệ trẻ cùng vẽ nên bức tranh thời đại mới

    Hậu COVID, bên cạnh những nỗ lực đưa mọi thứ trở lại guồng quay của thời gian, thế hệ Z còn phải đối mặt với tương lai của bản thân và thế giới. Đặc biệt thế hệ trẻ Việt Nam mang trong mình trọng trách lớn lao về những mục tiêu phát triển bền vững (Sustainable Development Goals – SDG) để rồi không một ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình phát triển của đất nước lại càng cần phải thận trọng hơn bao giờ hết. Thận trọng ở đây không phải là thận trọng trong lựa chọn, bởi lẽ không ai có thể đảm bảo rằng bất kỳ sự lựa chọn nào cũng là đúng đắn. Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây, thế hệ Z Việt Nam cần trong tâm thế sẵn sàng tiến về phía trước. Và các bạn cần biết rằng mỗi sự lựa chọn đều là một thay đổi cho những bước khởi đầu của tương lai và những quyết định được đưa ra cần được suy xét kỹ hơn. Để có thể thực thi bức tranh thời đại mới, có một vài nét vẽ quan trong cần được thực hiện:

    1. Nét vẽ đầu tiên – TIÊM VACCINE:

    Tiêm Vaccine phòng ngừa virus corona là một tấm vé giúp bước lên con tàu hành trình đi đến thời đại mới. Nghe có vẻ là một điều gì đó tầm thường nhưng lại khá cần thiết. Có thể nói, tiêm vaccine là một liều thuốc giúp bản thân nhận được các kháng thể chống lại virus và cũng là liều thuốc tinh thần giúp xã hội có thể tái hòa nhập và bắt đầu giao thương hợp tác trở loại một cách bình thường.

    Thế hệ trẻ cùng vẽ nên bức tranh thời đại mới
    Nét vẽ đầu tiên – TIÊM VACCINE

    2. Nét vẽ thứ hai – Cởi mở để Chữa lành (Willing to Healing) [2]:

    Khác với những thế hệ đi trước, thế hệ trẻ gần đây quan tâm khá nhiều đến chăm sóc sức khỏe tinh thần và giá trị cuộc sống. Để có thể thay đổi và kiến tạo nên thời đại mới, chính bản thân các bạn trẻ hiện nay cũng cần được chăm lo về mặt tinh thần thì mới có thể hướng đến việc thay đổi lớn hơn.

    Thế hệ trẻ cùng vẽ nên bức tranh thời đại mới
    Nét vẽ thứ hai – Cởi mở để Chữa lành (Willing to Healing)

    3. Nét vẽ thứ ba – Lắng nghe:

    Nét vẽ thứ ba cũng như là nét vẽ quan trọng nhất trong việc thực thi bức tranh thời đại mới của thế hệ đón chào. Để có thể hướng tới 17 mục tiêu phát triển bền vững được Liên Hợp Quốc đặt ra ở Việt Nam, điều cần nhất lúc này là lắng nghe.

    Thế hệ trẻ cùng vẽ nên bức tranh thời đại mới
    Nét vẽ thứ ba – Lắng nghe:

    Có thể nói, việc lắng nghe không bao giờ là lỗi thời cả. Để không một ai bị bỏ lại trong tiến trình phát triển bền vững, việc lắng nghe là hoàn toàn cần thiết. Thế hệ ngày nay có thể lắng nghe được nỗi khó khăn của trẻ em vùng sâu vùng xa hay  thấu cảm được lời kêu cứu của Trái Đất trước sự biến đổi khí hậu nặng nề hay như việc nghe thấy những bất công và lên tiếng vì bình đẳng giới trong xã hội. Rất rất nhiều vấn đề xã hội đã và đang tiếp diễn xảy ra và hành động trước hết có thể bước đầu giải quyết chúng đó là lắng nghe.

    Có thể nói, thế hệ trẻ trong thời đại COVID-19 là một bức tranh chưa hoàn thiện, mới chỉ là những nét vẽ thô sơ mộc mạc nhưng không thể phủ nhận những nét vẽ ấy đã phần nào đóng góp những mảnh ghép đầu tiên cho mục tiêu phát triển bền vững của thế giới. Chính vì vậy, các bạn trẻ bây giờ cầm lên những công cụ cũng chính là kiến thức của chính bản thân mình bắt đầu thực hiện tiếp những nét vẽ cho bức tranh thời đại mới.

    Nguồn tham khảo:

    [1] Toàn văn bài phát biểu của BTS tại kỳ họp thứ 76 của Liên Hợp Quốc: ‘Đừng nhìn nhận là Thế hệ Mất mát, hãy gọi đây là Thế hệ Đón chào’

    [2] Thế hệ lo âu

    #langnghe #tiemvaccine #coimo #sdgvietnam #vaccine #sdg #corona #covid #BTS #xahoithoai #lienhopquoc #Vietnam #covid19 #willing #daidich #healing #chualanh

  • Khởi nghiệp “Start-up” ở Việt Nam: làm sao cho đúng?

    Khởi nghiệp “Start-up” ở Việt Nam: làm sao cho đúng?

    Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê cho biết Việt Nam hết năm 2022 sẽ đạt khoảng 1 triệu doanh nghiệp. Đây là một con số được đưa ra dựa trên cơ sở khoa học, bởi môi trường kinh doanh của Việt Nam đang không ngừng được cải thiện, lại có nhiều cơ chế cùng với chính sách khuyến khích đầu tư, các hoạt động sản xuất kinh doanh. Tất cả đang cho thấy rằng đất nước đang phát triển này đang mang đậm trên người một tinh thần “quốc gia khởi nghiệp”. 

    Khởi nghiệp là gì và vì sao khởi nghiệp? 

    Để hiểu rõ hơn khởi nghiệp là gì thì trước tiên cần phải đề cập đến tinh thần khởi nghiệp – một phạm trù rộng lớn hớn. Tinh thần khởi nghiệp của Việt Nam thật ra đã xuất hiện từ những năm của thế kỉ 19 – thế kỉ 20, khi đất nước bắt đầu có sự giao thương mở rộng với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Trong giai đoạn này, dù vẫn còn chịu sự khống chế của thực dân nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn tự hào với những cái tên nổi tiếng như Bạch Thái Bưởi trong ngành tàu thủy, Nguyễn Sơn Hà với sơn Gecko, Trương Văn Bền với xà bông Cô Ba… 

    Xà bông Cô Ba - Cuộc hồi sinh bất thành | Advertising Vietnam
    Hình ảnh xà bông Cô Ba nổi tiếng một thời, hàng Việt Nam chất lượng cao

    Nguồn: Advertising Việt Nam

    Sau thời kì đất nước thống nhất, đặc biệt là giai đoạn Đổi Mới (1986) với cú hích mở cửa nền kinh tế đã thật sự tạo nên một sự cổ vũ to lớn cho các tinh thần khởi nghiệp. Tuy nhiên, mãi cho đến năm 2016, Chính phủ Việt Nam lấy là năm của “Quốc gia khởi nghiệp”, thì câu chuyện khởi nghiệp mới chính thức trở thành một đề tài nóng, một câu chuyện đáng được bàn tán, và một giấc mơ đáng để theo đuổi cho bất kì cá nhân nào có ý tưởng và tinh thần “liều mạng”. Bởi không chỉ vì sự khuyến khích của Nhà nước, mà hình ảnh của những con “kỳ lân” vươn mình xuất hiện đầy rẫy trên các phương tiện truyền thông rõ ràng đã trở thành giấc mơ của không biết bao nhiêu người trên đất nước có nền kinh tế đang phát triển này. 

    Top 10 công ty kỳ lân lớn nhất thế giới
    Bức tranh kỳ lân của thế giới đã rất chật chội, chỗ đứng nào sẽ dành cho các “kỳ lân non” tiếp theo?

    Nguồn: investup

    Khởi nghiệp hay “khởi nghiệp”? 

    Khởi nghiệp có thể là khởi đầu một sự nghiệp, nhưng cũng có thể là khởi động cho một gánh nặng lâu dài về sau. Theo TS. Mai Hữu Tín, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Đầu tư U&I, số người trẻ kinh doanh thành công chiếm tỷ lệ nhỏ một phần do thiếu kiến thức cần có của một doanh nhân. Cụ thể thì ở Việt Nam, số doanh nghiệp khởi nghiệp được “ăn sinh nhật lần thứ 2” chiếm không quá 5% – một tỉ lệ quá thấp cho rất nhiều ước mơ quá cao của những người trẻ đầy hoài bão. 

    Best Premium Business startup plan failure Illustration download in PNG & Vector format
    Câu chuyện thất bại đã không còn quá xa lạ

    Nguồn: IconScout

    Con số này cho thấy, song song với những mảng hồng được truyền thông phơi bày, thì thị trường start-up hiện nay đang trở nên rất khốc liệt, nhưng chúng ta phải thừa nhận một điều rằng phải có sự cạnh tranh như thế thì thị trường mới có cơ hội trưởng thành hơn. Trong tương lai, tỉ lệ thành công có thể chỉ quanh quẩn ở con số nhỏ, nhưng sức ép của thị trường sẽ khiến cho những start-up thành công ngày càng phải nỗ lực để chứng tỏ giá trị của mình đối với thị trường và cả người tiêu thụ. 

    Có một sự thật đáng buồn hơn, là đôi khi các start-up cũng phải rất vất vả để…biết dự án của mình có thất bại hay không. Mặc dù, tinh thần khời nghiệp được xếp vào nhóm cao trên thế giới, nhưng Việt Nam lại thuộc top 20 quốc gia có khả năng thực thi dự án khởi nghiệp thấp nhất (số liệu 2019), và thậm chí chỉ có khoảng 3% được gọi là thành công. Như vậy, khoảng cách giữa khát vọng, ý chí và hành động cụ thể đang là quá lớn để có thể nghĩ đến những câu chuyện xa vời hơn. 

    Khởi nghiệp làm sao cho đúng? 

    Câu chuyện khởi nghiệp chưa bao giờ là đơn giản. TS. Lý Quí Trung chia sẻ rằng cuộc sống của doanh nhân không có ai suôn sẻ. Vì vậy, trước khi quyết định kinh doanh, người trẻ cần dành thời gian để trao dồi, tích lũy kiến thức để hạn chế rủi ro đầu tư.  

    Đáp ứng bối cảnh của thị trường 

    Theo TS. Lý Quí Trung, việc đào tạo doanh nhân tương lai cần đáp ứng được hai bối cảnh, gồm: sự phát triển của 4.0 và bất định bởi Covid-19. Đây là hai yếu tố có sức ảnh hưởng rất lớn với xã hội nói chung và thị trường kinh tế nói riêng. Covid 19 đi qua đã để lại sự thay đổi to lớn trong thói quen của người tiêu dùng, đòi hỏi nhà kinh doanh cần phải nắm bắt nhanh chóng để theo đuổi một xu thế tất yếu của xã hội. 

    Cân bằng cảm xúc và lý tính

    Việc đầu tư dài hạn cho bất kì điều gì cũng cần có sự tập trung cao độ.  TS. Mai Hữu Tín cho rằng doanh nhân hiện nay không chỉ phân tích theo lý tính, mà còn cần có thêm cảm tính, tức cân bằng IQ và EQ. Thực hiện được điều này, con đường đầu tư sẽ có khả năng phấn đấu và phát triển lâu dài hơn. “Khi cân bằng được cuộc sống, việc vận hành doanh nghiệp cũng sẽ cân bằng theo, đồng thời, mang lại nhiều giá trị mang tính dài hạn, bền vững cho xã hội hơn”

    Tìm hiểu thành công của những đối thủ trước 

    Để có thể nhanh chóng tìm được chỗ đứng cho mình trên thương trường, mọi người có thể cân nhắc xem xét qua những phân tích về thành công của những kỳ lân đi trước. Bài viết này có đính kèm tài liệu, mọi người có thể xem qua tại đây

     Tham khảo: 

    1. Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam và một số giải pháp đề xuất 

    2. Vì sao chỉ dưới 5% start-up Việt “được” tổ chức sinh nhật lần 2?

    3. Báo cáo chính sách DNVVN và khởi nghiệp tại Việt Nam 

    4. [KOCCA] Startup Report

    5. ‘Tỷ lệ người trẻ kinh doanh thành công ở Việt Nam không quá 5%’

    #đầutư #khởinghiệp #startup #doanhnghiệp #ViệtNam #thịtrường #chínhsách

  • Trách nhiệm xã hội – Bố mẹ không vui vì bạn “vác tù và hàng tổng” – Võ Ngọc Tuyền

    Trách nhiệm xã hội – Bố mẹ không vui vì bạn “vác tù và hàng tổng” – Võ Ngọc Tuyền

    Trong báo cáo “Làm thế nào để tương tác với Thế hệ Z ở Việt Nam” [1] của hãng nghiên cứu Nielsen cho thấy Thế hệ Z sẽ chiếm 25% lực lượng lao động của Việt Nam vào năm 2025. Nghiên cứu mô tả Thế hệ Z của Việt Nam là nhóm người theo chủ nghĩa đa văn hóa và quan tâm đến các vấn đề xã hội khác nhau gồm trách nhiệm xã hội, các vấn đề môi trường và bình đẳng giới.

    Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng
    Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng

    Trách nhiệm xã hội với thế hệ gen Z:

    Qua nhiều cuộc trò chuyện và chia sẻ với các bạn trẻ, giúp mình khẳng định xu hướng này là có thật. Các bạn thuộc thế hệ Gen Z dù đang học hay làm việc trong lĩnh vực nào đều có sự quan tâm về các vấn đề đang xảy ra xung quanh mình. Vì thế, các sự kiện chia sẻ về các chủ đề môi trường, xã hội, bình đẳng giới ngày càng thu hút sự tham gia của thế hệ trẻ. 

    Sinh ra trong thời kỳ bùng nổ “kỹ thuật số”, thế hệ gen Z không chỉ đơn thuần là kết nối, mà họ còn siêu kết nối. Một khảo sát chỉ ra 74% người thuộc thế hệ Z nói rằng họ dành thời gian rảnh để online. Tuy vậy, một điều thú vị là Gen Z lại ít có xu hướng chia sẻ quá nhiều về những suy nghĩ của mình trên mạng xã hội, thay vào đó, họ lại quan tâm tham gia các hoạt động xã hội một cách trực tiếp, vừa để học hỏi kinh nghiệm cho công việc, vừa có thêm trải nghiệm phong phú và mong muốn góp tay vào những hoạt động hỗ trợ cộng đồng để tìm ra ý nghĩa cuộc sống. 

    Đây rõ ràng là một bức tranh tích cực về thế hệ Gen Z, tuy vậy, các bạn lại gặp không ít khó khăn để nhận được sự ủng hộ từ chính bố mẹ của mình khi mong muốn tham gia hoạt động liên quan đến cộng đồng. Không ít các bạn trẻ từng trải lòng những khó khăn về việc làm sao để bố mẹ hiểu được công việc mình làm. 

    Lý do tình trạng xã hội "Vác tù và Hàng tổng":

    Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng
    Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng

    Nghiên cứu mô tả Thế hệ Z của Việt Nam là nhóm người theo chủ nghĩa đa văn hóa và quan tâm đến các vấn đề xã hội khác nhau gồm trách nhiệm xã hội, các vấn đề môi trường và bình đẳng giới.

    Có bạn chia sẻ mỗi khi về nhà là bạn lại trốn lên phòng, tránh ăn chung với gia đình vì sợ nghe bố mẹ khuyên nhủ về công việc khác bạn nên theo đuổi.  Có bạn thì tranh cãi rất nhiều lần với bố mẹ đến mức cảm thấy bản thân không được gia trình yêu thương và tôn trọng. Có bạn thì luôn cảm thấy tội lỗi vì đã không đi theo con đường mà bố mẹ luôn mong mỏi. 

    Đây chỉ là một số trong nhiều ví dụ mà các bạn trẻ đang đối diện để đeo đuổi con đường hướng về cộng đồng và xã hội.  

    Khoảng cách thế hệ là lý do phổ biến mọi người dùng để giải thích tình trạng này, tuy nhiên, dù ở thời đại nào thì khoảng cách thế hệ vẫn luôn tồn tại. Sự thật là khi hai thế hệ có những trải nghiệm lớn lên khác nhau thì những mối quan tâm, suy nghĩ sẽ không thể nào đồng nhất.

    Nếu thế hệ trước đây lớn lên trong điều kiện sống lúc nào cũng thiếu thốn khiến họ thường lo lắng rất nhiều về sự ổn định trong cuộc sống, thì thế hệ hiện tại có nhiều điều kiện hơn thế hệ trước lại quan tâm nhiều về những trải nghiệm trong cuộc sống. “Sống là để trải nghiệm” là một câu slogan đánh trúng tâm lý của thế hệ mới. Chẳng hạn, có nhiều bạn trẻ sẵn sàng làm công việc với mức lương không cao hay ngay cả tình nguyện chỉ để có cơ hội được trải nghiệm và học hỏi. 

    Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng
    Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng

    Tuy vậy, mâu thuẫn này không phải là không thể giải quyết. Chúng ta không ai chọn được gia đình, nhưng vẫn luôn có thể chọn cách ứng xử phù hợp để làm cho mối quan hệ gia đình được tốt hơn. 

    Giải pháp để ba mẹ thấu hiểu vấn đề xã hội:

    Có một số giải pháp mà bạn có thể thử áp dụng nếu gặp đang phải khó khăn làm sao để bố mẹ thấu hiểu công việc bạn đang làm: 

    1. Chia sẻ về ước mơ và suy nghĩ của mình với bố mẹ nhiều hơn. 

    Với văn hoá Á Đông điều này thường khó khăn, nhưng các bạn Gen Z có lợi thế hơn về sự cởi mở khi lớn lên trong một môi trường toàn cầu hoá. Khi bạn cởi mở để chia sẻ chân thành về suy nghĩ và mơ ước của mình, biết đâu sẽ khiến bố mẹ cũng cảm thấy thoải mái để mở lòng chia sẻ những lo lắng đằng sau của họ để cùng hiểu nhau hơn. Đây cũng là cách mà chàng nhạc sĩ trẻ Võ Việt Phương dùng để chia sẻ ước mơ của bạn về con đường âm nhạc, Phương hay chia sẻ ước mơ sang tác nhạc của mình và hỏi về ước mơ của bố mẹ trong những bữa cơm gia đình, nhờ đó mà bố mẹ hiểu bạn hơn và ủng hộ bạn trên con đường chinh phục ước mơ ấy. 

    2. Chia sẻ kế hoạch về con đường mình đi một cách rõ ràng

    Điều này cũng giúp cho bố mẹ an tâm hơn về sự lựa chọn của bạn. Đôi khi bố mẹ chưa ủng hộ chỉ vì lo lắng sợ con chưa suy nghĩ kỹ càng. Khi bạn có được một kế hoạch cụ thể về con đường của mình sẽ giúp bố mẹ cảm thấy an tâm hơn vì nhìn thấy bạn có sự chuẩn bị cho con đường của mình. 

    3. Để bố mẹ thấy bạn hạnh phúc và vui vẻ như thế nào khi làm công việc mình yêu thích. 

    Nếu có cơ hội, mời bố mẹ tham gia những hoạt động bạn đang làm để họ gặp gỡ được với những người bạn làm việc cùng và nhìn thấy được ý nghĩa của chúng. Không bố mẹ nào mà không muốn nhìn thấy con mình hạnh phúc, khi bạn chứng tỏ được công việc đó giúp bạn sống hạnh phúc như thế nào, sẽ có thể giúp làm “xiêu lòng” bố mẹ. 

    Đây chỉ là một trong rất nhiều giải pháp mà bạn có thể áp dụng, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh thực tế mà chọn lựa và điều chỉnh cho phù hợp. Khoảng cách thế hệ dù lớn đến thế nào vẫn có thể rút ngắn được khi chúng ta ứng xử với sự thấu cảm, chân thành và thương yêu.

    Làm công việc xã hội, công việc cộng đồng chắc chắn gặp không ít khó khăn, việc có thêm đồng minh sẽ giúp con đường này trở nên đỡ chông gai và khó đi hơn. Và có lẽ, không có đồng minh nào vừa lâu bền và gần gũi nhất là gia đình và bố mẹ của mình, đúng không bạn nhỉ.

    Nguồn tham khảo:

    [1] Kết Nối với Thế Hệ Z tại Việt Nam 

    Nguồn ảnh: Freepik

    #hoatdongxahoi #xahoithoai #giadinh #khoangcachthehe #congdong

  • Zero Waste – Hướng tới lối sống bền vững

    Zero Waste – Hướng tới lối sống bền vững

    Có thể nói, hiện nay Trái Đất đang đối mặt với một làn sóng rác thải ra môi trường, đặc biệt là rác thải nhựa. Đây là một trong những nguyên nhân gây ra sự biến đổi khí hậu và sự cạn kiệt về tài nguyên môi trường.  Chính vì thế, các nhà môi trường học đã đề xuất một lối sống bền vững mới, giải pháp tiết kiệm nhất cho vấn đề môi trường. Và bắt đầu từ những năm gần đây, Zero Waste – nói không với rác thải, một xu hướng hoàn toàn mới cho toàn cầu dần được phổ biến.

    Zero Waste – Hướng tới lối sống bền vững
    Zero Waste – Hướng tới lối sống bền vững

    ZERO WASTE – Hướng tới số KHÔNG tuyệt đối

    Zero Waste – nói không với rác thải. Hiểu đơn giản Zero Waste (không rác thải) hướng tới lối sống không xả rác thải ra môi trường dưới mọi hình thức, thông qua tái chế, tái sử dụng, tiết giảm,… Ở góc độ vĩ mô, Zero Waste hướng tới tái định nghĩa nền kinh tế. Chúng ta đang sống ở nền kinh tế tuyến tính – khai thác và tận dụng các tài nguyên từ trái đất và xả thải rác thải ra môi trường. Mục đích của Zero Waste là tiến tới nền kinh tế tuần hoàn – nói không với rác. Nền kinh tế tuần hoàn lấy ý tưởng từ tự nhiên – mọi tài nguyên đều luân chuyển tuần hoàn, không có sự tồn tại của “rác”. Áp dụng Zero Waste không những giải quyết được các vấn đề về nhức nhối về môi trường mà còn đáp ứng được nhu cầu ngày càng gia tăng của con người, hướng tới sự phát triển bền vững.[1]

    Mô hình giải pháp 5R (Ảnh: Nguyễn Tỉnh)
    Mô hình giải pháp 5R (Ảnh: Nguyễn Tỉnh)

    REDUCE:

    Theo UNEP, các sự kiện thể thao lớn có thể thải đến 750.000 chai nhựa [1]. Nhận thức được điều đó, SEA Games 31 được tổ chức tại Việt Nam cũng đã và đang áp dụng nhiều biện pháp trong nỗ lực giảm nhựa chung, giúp xây dựng một kỳ đại hội xanh – sạch – đẹp. Văn phòng WWF tại Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với Ban tổ chức triển khai xây dựng thực hiện công tác giảm nhựa trên tinh thần tự nguyện trong quá trình sự kiện diễn ra. Với thông điệp xuyên suốt đại hội: tổ chức một kỳ SEA games xanh, không rác thải nhựa, WWF đã thực hiện chương trình “Gom nhựa lựa quà”. Tại chương trình này, các vật phẩm, các kỷ niệm chương, quà lưu niệm  đều được làm từ các vật liệu tái chế như nhôm, đồng, nhựa… [2]

    WWF nhuộm “xanh” SEA Games 31 (Ảnh: ThanhNienViet)
    WWF nhuộm “xanh” SEA Games 31 (Ảnh: ThanhNienViet)

    REUSE:

    Không dừng lại ở đó, mỗi cá nhân hoàn toàn có thể giảm thải rác sử dụng để có thể tiến dần đến Zero Waste bằng nhiều hành động đơn giản: sử dụng bình đựng nước tái sử dụng, ống hút kim loại, hưởng ứng việc sử dụng, mua bán hoặc trao đổi đồ cũ,… [1] Gần đây là chương trình “Đổi vỏ chai cũ nhận sản phẩm mới” và chương trình “Thu hồi pin cũ – Bảo vệ Trái Đất xanh” của Cocoon đang diễn ra hết sức sôi nổi vừa để tăng cường ý thức bảo vệ môi trường cho mọi người đặc biệt là giới trẻ, khách hàng mục tiêu của Cocoon, vừa hướng tới nền kinh tế bền vững sau này. Theo thông tin từ báo Tài nguyên và Môi trường, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI vừa phát động Chương trình Đánh giá, Công bố Doanh nghiệp bền vững tại Việt Nam (CSI) năm 2022. Chương trình nhằm đề cao các doanh nghiệp hướng tới 3 khía cạnh toàn diện: kinh tế – xã hội – môi trường. [3]

    RECYCLE:

    Ngoài ra, mỗi vật dụng đã qua sử dụng trừ khi không thể tái chế được nữa thì tái chế là một biện pháp khác để hạn chế tối đa lượt rác thải ra môi trường. Một chương trình của Logitech có thể chưa được nhiều người trẻ biết đến là chương trình Việt Nam Tái Chế. Đồ điện tử đã hư hỏng hoặc đã qua sử dụng của Logitech sẽ được thu gom tận nơi hoặc mang đến những cơ sở tái chế chỉ định của Logitech hoàn toàn miễn phí. Sau các đồ điện tử của nhãn hàng đều có những nhãn tái chế được ghi chú rõ ràng, có thể truy cập đường link để biết thêm thông tin. 

    REFUSE:

    Nguyên tắc từ chối những gì mình không cần. Không cần ở đây là có thể thay thế các dụng cụ ăn uống, hộp xốp đựng hay chai nước suối thành hộp thuỷ tinh đựng thức ăn, ly nước, bình nước cho bản thân có thể sử dụng nhiều lần. Điều này không chỉ giảm thiểu được lượng rác thải nhựa thải ra môi trường mà còn giúp bản thân tiết kiệm được chi phí cho các đồ dùng không cần thiết.

    ROT:

    Ủ phân những gì còn lại. Những loại rác hữu cơ (organic rubbish) là các loại rác dễ phân huỷ như thức ăn thừa, trái cây, rau củ quả hay bã cà phê, bã trà,… Một loại rác có thể tìm thấy từ bất cứ đâu trong sinh hoạt hằng ngày của mỗi người đều có thể được tận dụng để làm phân bón cho cây, giúp cây phát triển tốt hơn. Nguyên tắc này có thể dễ dàng được thực hiện nhờ vào thói quen phân loại rác tại nơi ở, nơi sinh hoạt, làm việc hoặc học tập. 

    Những nỗi khổ chỉ người sống Zero Waste mới hiểu được

    Zero Waste không phải là chỉ hạn chế dùng và thải đồ nhựa. Zero Waste (Không rác thải) thực chất là cái đích cuối cùng của một lối sống xanh, là sống hoàn toàn không xả rác ra môi trường, thông qua việc cắt tất cả những tiêu dùng không cần thiết, kết hợp với tái sử dụng và tái chế 100% tất cả các nguồn nguyên vật liệu sử dụng trong sinh hoạt. Tất nhiên là không sử dụng các loại vật liệu đóng gói hay bất cứ vật liệu gì dùng một lần. 

    Đây thực ra là một lối thực hành rất khó và hoàn toàn không thể là chuyện làm được ngay trong ngày một ngày hai. Vậy nên khi mọi người nói tới Zero Waste, thì mình nên hiểu đó là một quá trình thay đổi từng bước nhỏ, giảm dần từng thứ, cái dễ làm trước, để hướng tới mục tiêu cuối cùng là cắt giảm hoàn toàn. 

    Zero Waste không phải là một khái niệm hoàn hảo tuyệt đối, mà nó là một lối sống mà theo đó bạn đưa ra những lựa chọn “xanh” hơn để giảm tác động của mình. Khi bạn hiểu được sâu xa ý nghĩa của việc đó, bạn sẽ hiểu được rằng Zero Waste sẽ không phải là ít vứt đồ đi hơn, mà là bạn sẽ không mua món đồ đó từ đầu.[4]

    Lối sống Zero Waste có thể đem lại nhiều bất tiện (Ảnh: Getty Images)
    Lối sống Zero Waste có thể đem lại nhiều bất tiện (Ảnh: Getty Images)

    5 nguyên tắc cơ bản mà lối sống Zero Waste đặt ra tưởng chừng như dễ làm nhưng mà làm không dễ tí nào. Đã quen với lối sống dễ dàng và tiện lợi mà các vật phẩm nhựa đem lại, thì có mấy khi con người chúng ta lại có thể nhanh chóng thay đổi thói quen sống của mình để hướng tới một lối sống hoàn toàn “say NO” với đồ nhựa.

    Thậm chí, đôi khi chính lối sống này có thể mang đến những dè bỉu từ chính những người xung quanh rằng “Tại sao phải cố gắng sống một cách khổ sở như thế?”. Đi đâu cũng phải xách đồ lỉnh kỉnh, nào là bình nước, là hộp cơm, là túi giấy đựng đồ,… thay vì chỉ đơn giản là đi tới đâu mua đồ chỉ cần có túi nilon lả có thể dễ dàng đựng đồ rồi mang về. Và thỉnh thoảng ta cũng tự hỏi bản thân rằng “Nếu mình không dùng thì người khác cũng dùng, đâu thể nào mà thay đổi hết được.”

    Zero Waste – Thay đổi nhỏ – Đóng góp to

    Như đã nói, việc thay đổi thói quen là một việc hết sức khó khăn. Nhưng chúng ta, chính những con người đang sinh sống trên Trái Đất này, có thể quyết định được một tương lai bơi lội dưới làn nước trong sạch hay một đại dương toàn rác, hít thở dưới bầu không khí trong lành hay một môi trường đầy ô nhiễm. Điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào chính bản thân chúng ta.

    Nếu không thể hoàn toàn thay đổi được thói quen thì hãy bắt đầu từ những điều nhỏ nhất. Đơn giản là đóng góp cho các chương trình trồng cây, gây rừng hay các quỹ hỗ trợ về môi trường. Đồng thời, bắt đầu giảm thiểu đồ dùng nhựa trong đời sống hằng ngày. Vì xu hướng Zero Waste không quá vĩ mô mà có thể thực hiện từ những điều cơ bản nhất mà cũng không tốn quá nhiều chi phí nên các bạn trẻ hiện nay có thể tập dần phương pháp Zero Waste này và hướng đến một lối sống bền vững cho chính bản thân mình.

    Lối sống bền vững – Zero Waste (Ảnh: FreePik)
    Lối sống bền vững – Zero Waste (Ảnh: FreePik)

    Nguồn tham khảo:

    [1] Zero Waste – Xu hướng của thời đại

    [2] Tâm sự về hành trình nhuộm “xanh” SEA Games 31

    [3] Đánh giá Doanh nghiệp bền vững 2022: xem trọng yếu tố môi trường

    [4] Anh hùng khí hậu Minh Hồng: Zero Waste không phải là giảm việc vứt đi, mà là… giảm mua

    #reuse #biendoikhihau #moitruong #zerowaste #rot #minhhong #recycle #reduce #5R #benvung #refuse

  • Team Building có phải là lời nguyền nơi công sở?

    Team Building có phải là lời nguyền nơi công sở?

    Team Building – Nghịch lý trong xã hội Việt Nam

    Câu chuyện team building đang trở thành một nghịch lý trong xã hội Việt Nam. Trong khi các công ty luôn tìm cách thúc đẩy sự gắn kết nội bộ của các thành viên trong tổ chức, thì chính những thành viên ấy lại tỏ ra không thật sự hào hứng lắm với nỗ lực này. Không quá khó khăn để bắt gặp trên mạng đầy rẫy những bày tỏ hết sức chán chường đối với hoạt động này. 

    Nguyễn Ngọc Thạch - Team Building
    Một ví dụ điển hình cho một kì team building lý tưởng được nhiều người hưởng ứng
    Vì sao mọi người ngại Team Building? 

    Theo một cuộc khảo sát của Hiệp hội Học giả Trung học Quốc gia (NSHSS) ở Mỹ, đối với thế hệ Gen Z, kỳ vọng về nơi làm việc đã có những thay đổi đáng kể. NSHSS phát hiện ra rằng Gen Z “mệt mỏi” với công việc và đào tạo trực tuyến, sau khi đi học và làm việc từ xa trong thời gian đại dịch. Những người trẻ giờ đây có xu hướng muốn trực tiếp tham gia để có trải nghiệm thực tế. Có đến 63% Gen Z muốn được đào tạo trực tiếp từ các nhà tuyển dụng của họ. 

    Không chỉ gen Z, mà cả những người thuộc thế hệ gen Y cũng từng bày tỏ mong muốn trở lại văn phòng để có được trải nghiệm làm việc “thật sự”. Nhưng điều đó không có nghĩa rằng họ có cũng muốn có thêm trải nghiệm khác ngoài việc được đến nơi làm việc. 

    Người đi làm thật sự đã chán cảnh ngồi làm việc tại nhà (Ảnh: Getty Image)
    Người đi làm thật sự đã chán cảnh ngồi làm việc tại nhà (Ảnh: Getty Image)

    Thông thường, các hoạt động Team Building sẽ được tổ chức vào những ngày nghỉ để tránh những ngày làm việc của công ty. Điều này phần nào ảnh hưởng đến thời gian cá nhân của mọi người. Cụ thể hơn, mỗi người phải tự chia bớt thời gian của họ cho tập thể. Đây là một quyết định khá khó khăn, đặc biệt là trong thời kỳ thời gian vô cùng khan hiếm như hiện nay. 

    Không kể đến vấn đề xăng tăng giá khiến cho việc di chuyển nhiều làm tăng thêm gánh nặng tài chính, thì trước đó, thế giới đều phải đối mặt với việc tự cách ly tại nhà. Bằng cách nào đó, thói quen này đã trở thành một tập quán trong lối sống của người hiện đại. Họ vẫn ổn kể cả khi không ra đường, xung quanh họ vẫn có đủ các thiết bị để họ giải trí sau một ngày làm việc vất vả. 

    Và hơn hết là, dường như dịch bệnh Covid 19 còn để lại cho rất nhiều người sự thức tỉnh về việc họ từng bỏ rơi gia đình mình nhiều như thế nào, để nhận ra rằng thời gian của bản thân nên dành cho người thân của mình nhiều hơn.

    Về nhà sớm vẫn luôn là lựa chọn hàng đầu trong thời buổi hiện nay (Ảnh: Pinterest)
    Về nhà sớm vẫn luôn là lựa chọn hàng đầu trong thời buổi hiện nay (Ảnh: Pinterest)

    Đấy là chưa kể, việc tham gia các hoạt động Team Building thường sẽ tốn khá nhiều sức, không thể áp dụng cho tất cả mọi người, đặc biệt là những người có thể chất kém khi phải làm việc văn phòng trong thời gian lâu dài mà không có sự vận động thường xuyên. 

    3 chìa khóa để xóa tan lời nguyền Team Building 

    Một nghiên cứu mới từ cho thấy “nhiều nhân viên không thích sự ràng buộc bắt buộc và thường coi những bài tập này là điều cấm kỵ đối với sự tồn tại tại nơi làm việc của họ”.

    PGS Julien Pollack, đồng tác giả của nghiên cứu cũng cho biết thêm: “Nhiều người không muốn bị ép buộc phải tham gia vào các cuộc vui hoặc kết giao nhiều, trong khi đó thì đấy lại là các hoạt động thường thấy của team building. Những hoạt động này thường mang tính bắt buộc ngầm. Mọi người có thể cảm thấy rằng ban quản lý đang quá tọc mạch hoặc cố gắng kiểm soát cuộc sống của họ quá nhiều ”.

    Thế nên, có lẽ chìa khóa đầu tiên chính là sự tự nguyện 
    Hãy để mọi người cảm thấy bản thân có quyền lựa chọn (Ảnh: Pinterest)
    Hãy để mọi người cảm thấy bản thân có quyền lựa chọn (Ảnh: Pinterest)

    Nếu lo lắng rằng sự tự do trong quyết định của mỗi cá nhân có thể làm giảm đi đáng kể số lượng người tham dự, thì tuyên bố của giáo sư Pollack sẽ giúp bạn đỡ cảm thấy như thế. Trong nghiên cứu của mình, giáo sư Pollack cho biết: “Chúng tôi đề xuất một cách tiếp cận mà mọi người có thể chọn không tham gia xây dựng nhóm một cách kín đáo, bằng cách chỉ tiến hành xây dựng nhóm trong số các cặp cá nhân được chọn, những người có thể chọn tiếp tục tăng cường mối quan hệ của họ hay không. Sự lựa chọn của họ sẽ không hiển thị cho ban quản lý”. 

    Vậy thì chìa khóa thứ 2 chính là hãy gắn kết trong một môi trường không quá đông đảo

    Team building đôi khi sẽ hơi choáng ngợp nếu được tham gia bởi quá nhiều người, khiến cho một số người cảm thấy không thoải mái để bộc lộ chính mình. Trong một nghiên cứu trước đây, Giáo sư Pollack và Tiến sĩ Petr Matous đã thử nghiệm một “cách tiếp cận tự tiết lộ bằng cách để những người tham gia được hướng dẫn thông qua một loạt câu hỏi cho phép họ dần dần tiết lộ thông tin và giá trị cá nhân”.

    Sự căng thẳng có thể được tạo ra khi phải thể hiện bản thân trước quá nhiều người (Ảnh: healthline.com)
    Sự căng thẳng có thể được tạo ra khi phải thể hiện bản thân trước quá nhiều người (Ảnh: healthline.com)

    Các câu hỏi được sử dụng trong nghiên cứu lần đầu tiên được xuất bản vào năm 1997 như là một phần của nghiên cứu của nhà tâm lý học Arthur Aron về “cảm giác gần gũi giữa các cá nhân được nuôi dưỡng bằng cách tiết lộ chi tiết cá nhân như thế nào”. Sau đó, đến năm 2015 các câu hỏi đó trở nên “viral” khi The New York Times xuất bản một tác phẩm của Mandy Len Catron tuyên bố rằng những câu hỏi có thể được sử dụng để khiến người lạ “phải lòng”.

    Bạn có thể xem thử 36 câu hỏi đó tại đây nếu muốn thử phương pháp này cho kì team building lần tới. 

    DOC – Dear Our Community chúc bạn và tập thể của bạn có những phút giây trải nhưng không trôi. 

    Tham khảo 

    1. Does Team Training Improve Team Performance? A Meta-Analysis

    2. Team building để gắn kết đồng nghiệp hay mệt mỏi theo một cách khác?

    3. CHÚNG TA ĐANG TIẾN HÓA ĐỂ CHẠY DEADLINE NHIỀU HƠN

    4. Hate those team-building exercises? Privacy is key to social bonding at work

    5. The 36 questions that lead to love