Thẻ: Phát Triển Thanh Niên

  • Tiktoker – một nghề rất quyền

    Tiktoker – một nghề rất quyền

    Sau những lùm xùm thời gian gần đây, không thể phủ nhận Tiktoker đã trở thành một nghề rất quyền.

    Tiktoker là đại diện của quyền lực thứ 5?

    Song song với sự phát triển của xã hội, Báo chí từ lâu đã trở thành quyền lực thứ tư, bên cạnh Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp. Tuy nhiên, một thời đại mới đang dần mở ra với rất nhiều đổi thay mà con người phải thích nghi, kèm theo đó là sự mở rộng về khái niệm quyền lực xã hội. Báo chí không còn là quyền lực cuối cùng, mà giờ đây, xã hội đang dần hình dung rõ một kiểu quyền lực mới: quyền lực thứ 5 – mạng xã hội.

    Tại sao nó được gọi là một kiểu quyền lực? Có thể vì nó cũng có điểm chung với những quyền lực “tiền bối”: những thông tin nó đưa ra đều có sức ảnh hưởng lên đến xã hội nói chung và một vài cá nhân nói riêng. Thông tin đang được vận chuyển nhanh hơn bao giờ hết để đến được với người sử dụng mạng xã hội. Trong một khoảng thời gian không quá 1 giờ đồng hồ, dường như mọi câu chuyện đều được người dùng mạng xã hội biết đến, với rất nhiều góc nhìn.

    Tuy nhiên, nhìn về mặt tích cực, sự phát triển này cũng là một tín hiệu khả quan cho một số ngành công nghiệp. Điển hình nhất hiện nay chính là cơ hội nghề nghiệp rộng mở cho những người dùng trên mạng xã hội Tiktok – mạng xã hội giải trí video phát triển bật nhất hiện nay. Không ít cá nhân đã nhanh chóng trở thành tiktoker với khoản thu nhập ổn bằng công việc review sản phẩm trên tiktok.

    100+ TikTok Stats, Facts, and Insights You Must Know in 2022 - The Teal  Mango
    Số lượng người dùng liên tục tăng trưởng của Tiktok

    Nguồn: The Teal Mango

    Tiếng nói của những tiktoker dần trở nên có trọng lượng. Các KOC với số lượng người theo dõi của họ dần có khả năng “phán quyết” như những quan tòa. Mọi người dường như đang dần quên đi việc tiktoker review là dựa trên cảm nhận cá nhân của họ, chứ không phải một chuẩn mực nào tiêu chuẩn hơn. Không phủ nhận rằng một số tiktoker thật sự có chuyên môn về những sản phẩm mà họ trải nghiệm, nhưng đa phần các tiktoker hiện nay đều sẽ review dựa trên quan điểm của một người tiêu dùng – một quan điểm gần với đại chúng nhất.

    Khi quyền lực Tiktoker chưa được kiểm soát

    Nói đúng hơn, tính cho đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa thật sự có một cơ sở đủ mạnh để kiểm soát phát ngôn của các tiktoker, trừ khi những phát ngôn đó rơi vào những khái niệm liên quan đến pháp luật. Nhưng cũng chính vì thế, mà tình hình hiện tại có vẻ đang dần trở nên phức tạp hơn là câu chuyện review và đến trải nghiệm. Gần đây, The New York Post đã gây chú ý khi đưa tin rất nhiều nhà hàng ở thành phố New York bị các thực khách là người có ảnh hưởng trên Tiktok (influencer) đến với thái độ hách dịch và yêu cầu các bữa ăn miễn phí. Với hình thức “siêu hời” như thế này, một số người thậm chí còn mua cả người theo dõi để được hưởng những đặc quyền mà các reviewer thường có.

    Quay lại bối cảnh Việt Nam, câu chuyện giữa các Tiktoker và chủ doanh nghiệp chỉ mới bắt đầu và dường như khó có thể nhìn thấy hồi kết. Vừa qua là câu chuyện của nam Tiktoker N. gây nên tranh cãi khi cho rằng quán gỏi nổi tiếng của Ty Thy đã không hợp vệ sinh mà còn tranh cãi với thực khách.

    Chưa dừng lại ở đó, câu chuyện của quán chè Chang Hi gần đây cũng là một câu đố oái ăm trước những trăn trở về việc doanh nghiệp cần phải liên tục thay đổi khi các Tiktoker bắt đầu lên tiếng. Chưa có phân định đúng sai hoàn toàn nghiêng về bên nào, nhưng các câu chuyện trên đã, và đang trở thành một tiền đề không mấy dễ chịu cho các chủ doanh nghiệp, đặc biệt là những người kinh doanh thực phẩm. Một nhà hàng đã phản ứng gay gắt đến mức cấm hẳn các Tiktoker đến review quán của mình.

    Chủ quán ăn dán ảnh "cấm TikToker", quy định pháp luật thế nào?
    Phản ứng dễ hiểu của một bộ phận chủ doanh nghiệp

    Nguồn: Dân Việt

    Làm gì với các Tiktoker? 

    Trong bài báo trả lời Zing, Thạc sĩ Đinh Hồng Anh, công tác tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, cho rằng reviewer chỉ là cá nhân, tiếng nói của họ không đại diện cho tổ chức, đơn vị nào. Thế nên, cần phải đặt ra giới hạn cho những Tiktoker này.

    Đối với Tiktok, thì nền tảng này có lẽ cần có những chính sách riêng để bảo đảm sự phát triển bền vững của chính mình. Đối với người tiêu dùng, bộ phận tạo nên quyền lực cho các Tiktoker, cũng nên giữ cho bản thân một cái nhìn sáng suốt đối với các vấn đề liên quan đến công việc mua bán – miếng cơm manh áo của những người mua bán. Cuối cùng, các chủ doanh nghiệp cũng tự sử dụng được quyền lực của chính mình, bằng cách nhờ các cơ quan có thẩm quyền can thiệp khi sản phẩm của doanh nghiệp mình bị đưa tin đồn không đúng lên mạng xã hội.

    Nếu chúng ta đều là những người tỉnh táo, văn minh, DOC tin rằng thái độ đó sẽ thanh lọc được những rắc rối không đáng có trong câu chuyện giữa người bán hàng, người tiêu dùng, và một nghề nghiệp đứng ở giữa họ.

    Tham khảo
    1. Nhiều TikToker đang ảo tưởng sức mạnh quyền lực mạng

    2. Các TikToker ‘ảo tưởng sức mạnh’ nên bị tẩy chay

    #review #ngườitiêudùng #quyềnlực #mạngxãhội #drama #Tiktok

  • Tính thực tế của “Nữ luật sư kỳ lạ Woo Young Woo” và góc nhìn khác về bình đẳng cơ hội

    Tính thực tế của “Nữ luật sư kỳ lạ Woo Young Woo” và góc nhìn khác về bình đẳng cơ hội

    Bộ phim “Extraordinary Attorney Woo” (Nữ luật sư kỳ lạ Woo Young Woo) khơi dậy sự quan tâm của công chúng về căn bệnh tự kỷ và mang đến góc nhìn khác về bình đẳng cơ hội, nhưng liệu những gì phim mô tả có đúng với thực tế?

    Nữ luật sư kỳ lạ Woo Young Woo
    Nguồn: The United Business Journal

    Góc nhìn khác về bình đẳng cơ hội

    Hiện tại, Tập 12 của bộ phim đã được lên sóng tối 4.8 ghi nhận rating 14.9%. Từ những ngày đầu phát sóng, phim liên tục duy trì tỷ suất người xem trên 10% và đứng đầu bảng xếp của nhà Netflix. Bộ phim xoay quanh cuộc sống và công việc của nữ luật sư tự kỷ Woo Young Woo do Park Eun Bin thủ vai sở hữu IQ 164 và gặp khó khăn trong giao tiếp xã hội. Phim được mô tả là “tác phẩm có khả năng chữa lành” vì đã miêu tả chân thực về chứng bệnh này cùng sự hỗ trợ của các đồng nghiệp. 

    Tuy nhiên, đi đôi với sự bùng nổ này, “Nữ luật sư kỳ lạ Woo Young Woo” cũng dấy lên lo ngại về độ thực tế của câu chuyện và ảnh hưởng lên nhận thức về chứng “Asperger”, một loại hội chứng tự kỷ.

    Truyền thông Hàn đưa tin nhiều cuộc bắt nạt đã xảy ra bằng cách sử dụng tên Woo Young Woo. Một người đàn ông chia sẻ: “Có một học sinh ở trường của vợ tôi bị rối loạn phổ tự kỷ, tình trạng nặng hơn Woo Young Woo một chút. Giờ đây, những đứa trẻ khác sẽ tìm đến học sinh đó để xem em ấy có hành động như Woo Young Woo không. Chúng còn hỏi rằng ‘Woo Young Woo rất thông minh nhưng tại sao bạn lại không như vậy?’”. Nhiều người cho rằng bộ phim đã tạo nên hiệu ứng tiêu cực, khiến cho xã hội săm soi và kỳ vọng hơn ở những người mắc chứng Asperger.

    Một người phụ huynh khác cũng bày tỏ sự thất vọng rằng “Ở Hàn Quốc, nơi nhiều người tin rằng những đứa trẻ khuyết tật về phát triển nên được giám sát bởi người giám hộ 24/7 và phải ở nhà, tuy nhiên Woo Young Woo dường như là người duy nhất có thể đi ra ngoài và hòa nhập cùng xã hội”. 

    Nguồn: Kbizoom
    Nguồn: Kbizoom

    Ngoài ra, một làn sóng bắt chước cách nói chuyện, đi lại, niềm yêu thích cá voi, … giống nữ luật sư đã gây không ít những tranh cãi trái chiều. YouTuber Misunjjang đăng tải video để tóc ngắn, đeo tai nghe và ăn kimbap theo chiều dọc. Cô nhắc đến tên nhân vật và gọi đây là “bệnh Woo Young Woo” dưới phần chú thích. Tiếp đến, kênh Wowcow làm về nội trợ cũng gây phẫn nộ khi bắt chước những động tác của nhân vật bị tự kỷ.

    Nguồn: Koreajoongangdaily
    Nguồn: Koreajoongangdaily

    Ngay sau hàng nghìn bình luận về hành động của các blogger, 2 Youtuber đứng trước sự tẩy chay dữ dội này đã phải đăng bài xin lỗi cho hành động này. Trên thực tế, khi vào vai Woo Young Woo, nữ diễn viên Park Eun Bin đã rất lo lắng và sợ hãi. Cô có cố vấn nhân vật riêng để đảm bảo mọi hành động diễn ra trong phim đều chính xác, khách quan.

    Nguồn: Koreajoongangdaily
    Nguồn: Koreajoongangdaily

    Những điều trên cũng đủ để hiểu rằng với độ thành công của bộ phim, đó hẳn là con dao hai lưỡi và vẫn quan trọng là cách tiếp nhận thông điệp của khán giả và không thể phủ nhận những ý nghĩa mà phim đã trao gửi đến chúng ta. Tuy nhiên nhờ đó, cộng đồng những người khuyết tật về phát triển nói chung, chứng bệnh tự kỷ nói riêng được quan tâm và cảm thông hơn.

    Tương lai cơ hội nghề nghiệp cho người khuyết tật

    Khi tương lai phát triển theo khuynh hướng linh hoạt hơn, làm việc từ xa nhiều hơn, giảm cách làm việc truyền thông, điều này có ý nghĩa gì đối với người khuyết tật. Tương lai công việc đối với họ như thế nào và họ cần chuẩn bị những gì cho những điều sắp tới?

    1. Cơ hội công việc truyền thống được rộng mở hơn cho cộng đồng người khuyết tật

    Trong thời kỳ đỉnh điểm của cuộc suy thoái năm 2008, Alok, người bị điếc, đã được thuê theo hợp đồng với những ứng viên khiếm thính và những người không khuyết tật khác. Hai năm sau, nhiều người khiếm thính, bao gồm cả Alok, đã trở thành nhân viên toàn thời gian. Lý do rất đơn giản: khả năng cạnh tranh. Alok đã trải qua những mô phỏng khắt khe về các loại công việc khác nhau và học cách kỳ vọng vào bản thân nhiều hơn những kỳ vọng thấp mà gia đình dành cho anh.

    Nguồn: Báo Thanh niên
    Nguồn: Báo Thanh niên

    Anh Phạm Như Ý (34 tuổi, quê Phú Yên) khuyết tật vận động, bại liệt 2 chân sau một cơn sốt lúc 3 tuổi. Quê nghèo, gia cảnh khó khăn, ba mất khi Ý mới 8 tuổi. Nghỉ học từ sớm vì hoàn cảnh gia đình, nhưng với tinh thần học hỏi anh hiện nay đã có được một công việc ổn định trong ngành digital marketing, một nơi theo anh nhận xét “đông nhân viên, nhưng tôi thấy rất hào hứng, bình đẳng và được tôn trọng. Công việc cũng vậy, không phải quan tâm về khuyết tật mà là khả năng của mỗi cá nhân”

    Như vậy, sự phát triển của Alok ở một trời tây và anh Ý ở trời ta đã cho thấy rằng vẫn rất khả thi để có thể được làm trong những công ty toàn diện (inclusive organization) nơi luôn tạo sự bình đẳng cho mọi nhân viên, sử dụng quy trình hoà nhập người khuyết tật từ đầu đến cuối. Có những mô tả công việc trong tay giúp họ nhận biết được những rào cản của mình và tự tìm kiếm đáp án để có thể cạnh tranh với những ứng cử viên khác. Ở các công ty này, họ cũng được nhận những đánh giá toàn diện và rất được khuyến khích phát triển. Nhiều công ty cũng được khuyến khích phân bổ nguồn ngân sách để mua các thiết bị để hỗ trợ họ nếu cần.

    2. Một sân chơi bình đẳng trong trò chơi nghề nghiệp

    Các tiêu chuẩn hòa nhập dành cho người khuyết tật cần được thiết lập cho phân ban nhân sự phối hợp với các tổ chức xã hội tiên phong trong lĩnh vực này. 

    Một số công ty tuyển dụng người khuyết tật đã chùn bước khi đội ngũ nhân sự đối xử với người khuyết tật một cách bất bình đẳng. Ví dụ, việc sử dụng trí tuệ nhân tạo để phỏng vấn có thể phân biệt đối xử đối với những người khuyết tật.

    Nguồn: Shutterstock
    Nguồn: Shutterstock

    Việc tuyển dụng một người khuyết tật đòi hỏi các công ty phải có “tâm lý lựa chọn” thay vì “tâm lý loại bỏ”. Khi các công ty nhận được hàng nhìn hồ sơ, họ cố gắng loại bỏ các ứng cử viên thông qua các tiêu chí chẳng hạn như bằng cấp hoặc những tiêu cực tuyển dụng trong đó khuyết tật có thể xuất hiện như một điểm tiêu cực và do đó sẽ bị loại bỏ. 

    3. Các công ty tuân thủ với các tiêu chuẩn trợ năng

    Nguồn: W3C
    Nguồn: W3C

    Công việc của những người khuyết tật ở các công ty được thực hiện hoá vì đã được đảm bảo các phần mềm mà họ sử dụng có thể truy cập được hoặc có sự can thiệp của chuyên gia để làm nó có thể dễ dàng truy cập với họ. Quy trình trang bị của doanh nghiệp buộc phải đáp ứng các tiêu chuẩn về khả năng tiếp cận phổ quát. Không nên mua phần mềm nào cho đến khi chưa đáp ứng tiêu chuẩn WCAG, là một bộ tiêu chuẩn trong xây dựng Website, được tổ chức W3C đưa ra nhằm xác định cách làm sao cho nội dung Web dễ tiếp cận hơn với người khuyết tật.

    4. Cần có những kỳ vọng hợp lý

    Sự cạnh tranh và kỳ vọng của bản thân là những khía cạnh cơ bản đối với người khuyết tật. Điều quan trọng là phải thực hiện đào tạo và phát triển kỹ năng hoà nhập dành cho người khuyết tật khác nhau, đặc biệt là các kỹ năng được đề cập trong báo cáo “Tương lai việc làm năm 2020” của diễn đàn kinh tế thế giới.

    5.Xây dựng ngọn lửa tham vọng

    Nguồn: Việt Giải Trí
    Nguồn: Việt Giải Trí

    Điều quan trọng là phải gieo mầm ý chí ngay từ khi còn nhỏ thông qua các chương trình “kết nối sớm” (early connection), chương trình cung cấp các dịch vụ và hỗ trợ phát triển cho các gia đình có con bị khuyết tật hoặc có nhu cầu bổ sung. Họ cũng có thể bắt đầu từ các tài nguyên nguồn mở như bảng việc làm dành cho người khuyết tật. Họ cũng cần phải biết về các công việc có nhu cầu, các xu hướng thị trường mới nhất và các công việc “không phải thông thường”, như xem video trên mạng xã hội. Ở một quốc gia như Ấn Độ, nơi cha mẹ có vai trò nhất định trong việc lựa chọn công việc cho con mình, chúng ta cần nâng cao nhận thức về một số công việc trực tuyến có thể bị một số người coi là phù phiếm.

    6. Tự làm chủ cơ hội và cuộc đời mình

    Một trong những bài học mà chúng ta nhận được gần đây chính là sự cần thiết cho người khuyết tật chủ động tìm kiếm cơ hội. Rohan một người có chứng tự kỷ đã luôn tự trau dồi cho mình ngoài những khóa tập huấn kỹ năng, nếu không anh ấy sẽ thất nghiệp. Việc trau dồi cho bản thân nhiều kỹ năng hơn chính là chìa khoá để thành công vì xu hướng tuyển dụng mới như chúng mình đã từng chia sẻ về bối cảnh khi kỹ năng thay thế bằng bằng cấp. Và đặc biệt, nền kinh tế tương lai được dự báo sẽ đi theo hướng tự động hoá và kỹ thuật số hoá, đòi hỏi sự phát triển của các loại hình giáo dục phi truyền thống để theo kịp với nhu cầu về kỹ năng của thị trường. Những xu hướng đó có thể bắt gặp tại đây.

    7. Thích ứng và tận dụng công nghệ để hỗ trợ bản thân

    Cuối cùng, công nghệ và khả năng thích ứng có thể giúp những người khuyết tật có được một công việc tốt. Geeta có khả năng cạnh tranh trong vai trò điều phối dự án nhờ vào việc cô ấy sử dụng các tính năng của phần mềm nhận dạng giọng nói để nhanh chóng điều hướng bằng chuột và nhấp vào các biểu tượng và menu đã chọn. Việc cô ấy không thể cử động tay cũng không gây cản trở vì công nghệ đã được sử dụng tốt. Sự thật rằng nhiều người khuyết tật nặng và đa khuyết tật làm việc bằng các ứng dụng những giải pháp dành riêng cho họ. Bởi lẽ tương lai như đã chia sẻ ở bài viết trước đây, AI, công nghệ sẽ là nơi dành cho những bạn trẻ biết đón đầu và nắm bắt cơ hội.

    Nguồn: Cvandmore
    Nguồn: Cvandmore

    Lời kết

    Dẫu biết sẽ rất khó khăn, tuy nhiên bộ phim “Nữ luật sư kỳ lạ Woo Young Woo” đi kèm với sự phát triển của xã hội sẽ là một nguồn hy vọng mới dành cho cộng đồng người khuyết tật.

    Nguồn: 

    1. Parents with autistic children said, “I feel uncomfortable with ‘Extraordinary Attorney Woo’”… 2. Netizens responded, “I can understand why they feel this way”

    3. Is ‘Extraordinary Attorney Woo’ helping or hurting the autism community?

    4. Web Content Accessibility Guidelines (WCAG) 2.1

    5. What future for the work of people with disabilities?

    #peoplewithdisabilities #WooYoungWoo #tuky #ngonnganhnghe #dearourcommunity #culture

  • Hay mình thử tích cực part-time thôi?

    Hay mình thử tích cực part-time thôi?

    Tích cực quan trọng với tinh thần của chúng ta” – các chuyên gia nói thế, người khác nói thế, chúng ta nói thế, ai cũng nói thế, nhưng không ai dặn bạn rằng hãy tích cực part-time thôi.

    Tích cực chỉ cần đủ

    Các nhà tâm lý học cho rằng, tích cực – một trạng thái tràn trề hy vọng cho tương lai – là một trạng thái rất cần thiết cho cả sức khỏe tinh thần và sức khỏe thể chất của mọi người. Tích cực có thể giúp một con người có khả năng phục hồi tốt hơn, quản lý cơn đau hiệu quả hơn, và thậm chí gia tăng sức mạnh của các cơ chế đề kháng để kéo dài tuổi thọ. Ngoài ra, những người tích cực cũng có xu hướng sở hữu những mối quan hệ lành mạnh, vui vẻ hơn.

    Một tin tốt nữa là, dù không thể đo về số lượng, nhưng tích cực có thể được rèn luyện để gia tăng trong tinh thần của mỗi người. Giáo sư tâm lý ở đại học York (Toronto), Myriam Mongrain, chỉ ra rằng dù sự tích cực được tạo nên từ một phần di truyền gen, nhưng nó cũng có thể bị tác động bởi cách chúng ta được nuôi dạy. Chúng ta có thể luyện tập tích cực, với mục tiêu là chỉ tích cực part-time thôi. Tích cực toàn thời gian nghe rất lý tưởng, nhưng không thực tế. Hơn nữa, cảm xúc tiêu cực cũng có vai trò riêng của nó. Sự tác động của tiêu cực hỗ trợ con người nhận định đúng, sai và tạo động lực để thay đổi.

    Đó chỉ là một vài lời nhắc nhở để bạn hiểu rằng sự tích cực không hoàn hảo đến mức bạn phải giữ lấy nó trong mọi thời điểm trong cuộc đời. Không có gì đáng thất vọng khi đôi khi chúng ta tiêu cực vì đấy là một tín hiệu tốt, chứng minh bộ máy phản ứng của bạn vẫn còn hoạt động tốt để duy trì một thể trạng sống linh hoạt.

    Còn bây giờ, hãy cùng tìm hiểu những cách để gia tăng sự tích cực.

    Tận hưởng những điều tích cực

    Dana McMakin, phó giáo sư tâm lý học tại Đại học Quốc tế Florida, gợi ý rằng mỗi người có thể tự tạo ra một kênh TV trong đầu, chuyên phát sóng lặp đi lặp lại những kí ức tốt đẹp. Mỗi khi có điều gì đó không ổn, hãy xem lại kênh TV đó, chọn một kí ức thoải mái rồi nhớ lại cảm giác hạnh phúc khi tận hưởng những điều đó. Chúng sẽ nhắc nhở bạn rằng, hóa ra cuộc sống không tệ đến thế, hóa ra bạn cũng từng có những khoản thời gian hạnh phúc đến thế.

    Tự tưởng cho mình những khoảnh khắc hạnh phúc cá nhân
    Tự tưởng cho mình những khoảnh khắc hạnh phúc cá nhân

    Nguồn: Being Anna

    Luyện tập hình thức này hàng ngày có thể hỗ trợ bạn đi vào giấc ngủ dễ dàng hơn, vì chúng giúp tinh thần của bạn thư thả hơn, thậm chí sẽ là nguôi ngoai nếu bạn đang ở trong một tình huống không được dễ chịu cho lắm.

    Tích cực đạt được những thành tựu nhỏ

    Hoạt động nhiều sẽ mở ra cơ hội cho bạn tích cực hơn. Khi rơi vào trạng thái đờ đẫn, hay trì trệ, bạn hãy thử làm một việc gì đó mà bạn có thể hoàn thành tốt. Để làm được như thế thì bạn nên đặt một mục tiêu nhỏ thôi, bắt đầu từ việc dọn dẹp trong phòng chẳng hạn. Bạn có thể tự lên kế hoạch chi tiết, dọn dẹp những chỗ nào, bắt đầu từ đâu, có cần trang trí thêm không…

    Giữ bản thân trong trạng thái bận rộn cho một thành tựu sắp tới
    Giữ bản thân trong trạng thái bận rộn cho một thành tựu sắp tới

    Nguồn: apartmenttherapy.com

    Quá trình này không chỉ đem lại cảm giác đạt được thành tựu khi hoàn thành mà còn hỗ trợ bạn phân tán suy nghĩ tiêu cực, giảm bớt đi cái năng lượng trì trệ lúc nãy. Tiến sĩ Mongrain nói: “Lạc quan không chỉ là nhìn thấy một tương lai tươi sáng, mà là biết phải làm gì để đạt được điều đó.”

    Tự viết thư cho bản thân

    Chọn một thời điểm trong tương lai, sau đó chọn tiếp một vấn đề mà bạn đang lo lắng. Thử tưởng tượng bản thân đang ở trong thời điểm đó, mọi thứ giải quyết ổn thỏa rồi và bạn đang tận hưởng thành quả tốt đẹp. Và giờ, bạn ở tương lai, viết một lá thư về câu chuyện đó cho bạn ở trong quá khứ.

    Tự viết những lời tâm tình cho bản thân
    Tự viết những lời tâm tình cho bản thân

    Nguồn: myblankpaper.com

    Lá thư nên có nội dung giải thích chi tiết làm thế nào bạn đã vượt qua được mọi thứ, càng chi tiết càng tốt. Lúc này, bạn đang để cho não của bản thân hoạt động với 2 nhiệm vụ: vừa an ủi, vừa giải quyết luôn vấn đề hiện tại theo một cách nhẹ nhàng hơn.

    Trên đây là những cách để có thể giữ bạn trong một trạng thái tích cực part-time lý tưởng. DOC xin chúc bạn có những ngày thật tích cực và tràn đầy năng lượng.

    #trạngthái #sứckhỏetinhthần #tiêucực #hạnhphúc #tíchcực #vuivẻ

  • ESP 4: Mang tiền về cho mẹ vậy mang gì về cho mình – Nguyễn Quỳnh Trang

    ESP 4: Mang tiền về cho mẹ vậy mang gì về cho mình – Nguyễn Quỳnh Trang

    Nguyễn Quỳnh Trang - Giám đốc điều hành Teach For Vietnam
    Nguyễn Quỳnh Trang – Giám đốc điều hành Teach For Vietnam

    Nguyễn Quỳnh Trang, hiện là Giám đốc điều hành của Teach For Vietnam, một tổ chức phi lợi nhuận với sứ mệnh mang giáo dục chất lượng đến những trẻ em vùng sâu vùng xa.

    Dù học ngành ngân hàng nhưng chưa làm ở ngân hàng một ngày nào. Từng đi làm việc trong lĩnh vực tài chính và chứng khoán, những công việc dễ dàng giúp Trang kiếm được vị trí và thu nhập rất tốt mà ai cũng mong muốn, nhưng những thắc mắc xoay quanh giá trị công việc đã dẫn Trang đến với lĩnh vực phi lợi nhuận và tác động xã hội.

    Nếu bạn mong muốn nhận được những thông tin, chia sẻ hữu ích về phát triển bản thân hàng tuần từ Dear Our Community, nhấn vào đây.

    Xem nội dung phỏng vấn trên Youtube

  • Chiếm dụng văn hoá ở Việt Nam (P2) – Hà Yến Chi

    Chiếm dụng văn hoá ở Việt Nam (P2) – Hà Yến Chi

    Áp dụng trong bối cảnh Việt Nam

    Do khái niệm chiếm dụng văn hóa có nguồn gốc từ bối cảnh phương Tây với lịch sử bạo lực thực dân khá rõ ràng, đa phần các ví dụ thường xoay quanh hiện tượng người da trắng Âu Mỹ chiếm dụng các thực hành văn hóa của các nhóm sắc tộc khác yếu thế hơn (như người da màu, người nhập cư, hay người bản địa) hoặc của các quốc gia khác. Trong các trường hợp này, trục tương quan chính nằm ở văn hóa quốc gia hoặc các nhóm sắc tộc (racial). Các nhóm bị vay mượn sử dụng khái niệm “chiếm dụng văn hoá” để phản đối việc người da trắng sử dụng thực hành văn hoá của họ để tăng giá trị bản thân, trong khi chính những người thuộc cộng đồng chủ thể thì lại bị đàn áp hoặc kỳ thị vì thực hành văn hoá của mình. Các ví dụ điển hình có thể kể đến như kiểu tóc tết (braids) hay bện (dreadlocks) của người châu Phi và gốc Phi, hay thực hành xông khói trừ tà (smudging) của người Mỹ bản địa.

    Ca sĩ Justin Bieber bị chỉ trích vì sử dụng kiểu tóc dreadlocks của người châu Phi và gốc Phi (Nguồn ảnh: OK! Magazine)

    Tuy nhiên, khái niệm này trở nên phức tạp hơn khi ứng dụng vào bối cảnh nội địa quốc gia cùng sắc tộc với lịch sử nội thực dân (internal colonialism – Hechter 1975) ít hiển lộ hơn. Khung lý thuyết chiếm dụng văn hóa thường mặc định ranh giới giữa các nhóm văn hóa và tộc người là rõ ràng và bất biến. Trên thực tế, đường biên văn hóa không hẳn luôn cố định, và việc phân định căn tính (identity) bao gồm nhiều khía cạnh ngoài tộc người. Trong bối cảnh Việt Nam, quá trình xây dựng nhà nước hậu thuộc địa dựa vào việc hợp nhất các tộc người (mà trước đó được kiến tạo bởi dân tộc học thực dân Pháp – Salemink 1990, 1999; Bayly 2000) vào chung một quốc gia dân tộc thống nhất. Vì thế, trong diễn ngôn phổ biến, các tộc người thiểu số được hình dung là 1 phần hiển nhiên và tất yếu của quốc gia Việt Nam. Đồng thời, sự “khác lạ” của các nền văn hóa thiểu số so với văn hóa Kinh cũng tạo ra sự tò mò, thích thú từ nhóm đa số. Tâm lý định vị văn hóa kép này dẫn đến kiến tạo các tộc người thiểu số là “internal Other” (tạm dịch: “người lạ nội bộ”) vừa là một phần gần gũi của cái “Tôi” vừa mang sự mới lạ của cái “Khác.” Nó lý giải tại sao nhóm chiếm ưu thế là người Kinh có xu hướng coi văn hóa các tộc người thiểu số là tài nguyên chung trong cùng bản sắc Việt Nam để khai thác, với niềm tin rằng mình đang bảo tồn văn hóa của chính mình, ở đây là văn hóa quốc gia – dân tộc Việt Nam. Do đó, các thảo luận về chiếm dụng văn hóa ở Việt Nam chủ yếu xoay quanh người Kinh và các nhóm thiểu số trong phạm vi quốc gia, chứ không phải với các tộc người thiểu số ở các quốc gia khác, cho dù các nhóm này có tương đồng văn hoá và liên hệ về lịch sử di cư với nhiều tộc người thiểu số ở Việt Nam. Diễn ngôn về chủ nghĩa dân tộc đa văn hóa (multicultural nationalism) này có thể dẫn đến niềm tin vô thức rằng người Kinh có “quyền” và “trách nhiệm” giúp đỡ định hướng cho các cộng đồng thiểu số bảo tồn văn hóa của chính mình sao cho “đúng cách,” tức là theo tiêu chuẩn đa số.

    Sự va chạm của các nền văn hóa (Nguồn: Equatex)

    Trong một phạm vi nhỏ hơn, việc xác định danh tính địa phương đôi khi vượt lên trên danh tính tộc người cụ thể, dẫn đến việc gộp chung văn hóa các tộc người khác nhau trong một danh tính địa phương “tưởng tượng” (cộng đồng tưởng tượng/imagined communities – Anderson 1983). Ở Việt Nam, một số danh tính địa – dân tộc (ethnoregional) chung thông dụng nhất là Tây Bắc (với các nhóm nổi trội như Thái, Mông, Dao,…) và Tây Nguyên (với các nhóm nổi trội như Êđê, Jarai, Kơho,…). Điều này lý giải tại sao các yếu tố văn hóa của các tộc người thiểu số thường được nhắc đến dưới danh tính địa phương chung thay vì tộc danh cụ thể. Ví dụ, Biti’s gọi thổ cẩm mình sử dụng là thổ cẩm “Tây Nguyên” (chưa nói đến việc đây là nhận dạng sai thổ cẩm Chăm), hay một số nhà thiết kế thời trang gọi chung thổ cẩm “Tây Bắc”, ngay cả khi các loại vải này chưa chắc đã đến từ vùng Tây Bắc, mà có thể là Đông Bắc. Nhà âm nhạc dân tộc học Lonán Ó Briain (2014) cũng miêu tả hiện tượng này qua việc các yếu tố văn hóa của nhiều nhóm dân tộc khác nhau như Tày, Mông, Dao,… được gộp chung trong các buổi biểu diễn quảng bá văn hóa địa phương ở Sapa, với các diễn viên đôi khi “đóng vai” các tộc người khác bằng cách mặc trang phục và sử dụng nhạc cụ của các nhóm này (ví dụ một số diễn viên người Tày hoặc Dao mặc trang phục người Mông và sử dụng khèn người Mông để biểu diễn). Khi danh tính địa phương bao trùm danh tính tộc người, người Kinh có thể tự liên hệ mình với các tộc người thiểu số sống cùng địa bàn, kể cả khi họ không cùng chung một văn hóa. Ví dụ, một tác giả người Kinh sống ở Hà Giang viết tiểu thuyết về người Mông ở Hà Giang có thể cho rằng những trải nghiệm và quan sát từ việc sinh sống gần cộng đồng này cho phép mình miêu tả chân thực về cuộc sống của người Mông ở đây.

    Chia sẻ quyền lực

    a. Kinh tế

    Ở VN hiện tại, phần lớn các thảo luận về chiếm dụng văn hóa tập trung vào một số khía cạnh chính là xúc phạm văn hóa và sai lệch thông tin (về nguồn gốc, nội dung hay bối cảnh thực hành). Tuy nhiên, một khía cạnh cốt yếu khác là chia sẻ lợi ích và quyền lực thì ít đc đề cập đến hơn. Một thực hành có thể giảm bớt rủi ro chiếm dụng khi nó hướng đến việc cân bằng lại cán cân quyền lực sẵn có. Cách chia sẻ lợi ích dễ thấy nhất là về mặt kinh tế, khi lợi nhuận từ các sản phẩm tiếp dụng văn hóa được chia sẻ công bằng và phù hợp với đóng góp của các bên (không nhất thiết là 50/50). Tuy vậy, các thông tin cụ thể về khía cạnh này ít khi được nghệ sĩ hay thương hiệu tiết lộ. Chưa kể, công bằng thương mại khó định lượng cố định, mà thường được quyết định thông qua đàm phán tự do giữa các bên. Do đó, việc chia sẻ lợi nhuận công bằng không chỉ là trách nhiệm của nghệ sĩ hay thương hiệu, mà còn phụ thuộc vào cách các cộng đồng thiểu số định vị giá trị và chất lượng của sản phẩm mình làm ra.

    b. Hiện diện truyền thông

    Ngoài quyền lợi kinh tế, chia sẻ quyền hiện diện truyền thông bằng cách trích nguồn văn hóa (accreditation) và tạo không gian cho cộng đồng chủ động thể hiện hình ảnh theo cách họ mong muốn cũng rất quan trọng. Có những tổ chức xã hội hay thương hiệu tuyên bố là trao quyền cho phụ nữ thiểu số nhưng trên các kênh truyền thông đa phần là thông tin về nội bộ tổ chức, nhà thiết kế hay người nổi tiếng, chứ hiếm thấy hình ảnh cộng đồng. Sự hiện diện truyền thông của các cộng đồng chủ thể là cần thiết, nhưng quan trọng hơn cả là cách họ hiện diện như thế nào. Việc đưa hình ảnh người dân tộc thiểu số vào truyền thông quảng cáo nếu không cẩn trọng rất dễ rơi vào tình trạng “sân khấu hóa” (performatize) các cộng đồng thiểu số, biến họ thành một hình thức trình diễn bề nổi khi nội dung và cách thức họ xuất hiện hoàn toàn đc quyết định bởi thương hiệu hay nghệ sĩ người Kinh. Trong trường hợp này, người dân tộc thiểu số được nhắc đến hay đưa ra về mặt hình ảnh để khán giả nhìn ngắm, nhưng không được cất lên tiếng nói thực của mình. Ví dụ, một số nghệ sĩ hay thương hiệu đưa nghệ nhân thiểu số tham gia các sự kiện truyền thông và sắp đặt họ vào các không gian kiểu khuôn mẫu theo hình dung phổ biến về dân tộc thiểu số (gắn với rừng núi, nông thôn, cây cỏ rơm rạ,…) nhưng khác với không gian và thực hành văn hóa của họ trên thực tế. Quyền tự chủ về hình ảnh cũng đảm bảo rằng họ là người đưa ra quyết định có hiện diện hay không. Nếu họ không muốn xuất hiện nhưng lại bị đưa ra trước công chúng thì đó lại là một thực hành mang tính bạo lực.

    Có một số lập luận cho rằng việc các thương hiệu hay nghệ sĩ tìm cảm hứng sáng tạo từ các tộc người thiểu số sẽ góp phần quảng bá những văn hoá này đến với công chúng. Trong nền kinh tế – chính trị văn hoá hiện nay, việc “quảng bá” các thực hành văn hoá thường được mặc định là một việc tốt, vì như vậy chúng có thể dễ dàng được thương mại hoá và tiêu thụ. Tuy nhiên, có những khía cạnh hay thực hành văn hoá chỉ nằm trong phạm vi cộng đồng chủ thể và việc trưng bày chúng ra ngoài khiến cho chúng mất đi ý nghĩa gốc. Ví dụ, tháp Chăm chỉ được mở khi có lễ tục quan trọng, nên việc buộc người Chăm mở tháp khi không có lễ là một sự xâm phạm về luật tục văn hóa và tính riêng tư của cộng đồng Chăm. Hoặc như trường hợp nhiếp ảnh gia người Mỹ Michael Heller của tòa báo Santa Fe New Mexican chụp ảnh một điệu nhảy nghi lễ của người bản địa Pueblo để đăng báo, trong khi luật tục của người Pueblo không cho phép chụp ảnh nghi lễ này vì cho rằng nó ảnh hưởng đến hiệu quả tâm linh. Họ sau đó đã khởi kiện Michael Heller và tòa báo với lý do vi phạm luật cấm chụp ảnh và xâm phạm tính riêng tư cộng đồng (Scaffidi 2006, 103). Có thể thấy, ngoài tính minh bạch (transparency), tính bí mật (secrecy) là một yếu tố quan trọng để một cộng đồng duy trì sự ổn định danh tính văn hoá của mình. Theo triết gia Jacques Derrida (2001), tính bí mật cũng mang trong nó công lý, và một xã hội yêu cầu tất cả mọi thứ phải minh bạch mà không cho phép bí mật tồn tại thì cũng trở thành độc tài. Diễn ngôn quảng bá văn hóa cũng cho rằng người dân tộc thiểu số “chân chất thật thà” (Noble Savage) thường dễ dàng đồng thuận và đón nhận bất kỳ sự chú trọng nào từ xã hội đa số. Không thể phủ nhận rằng việc nội tâm hóa các diễn ngôn kỳ thị văn hóa có thể dẫn đến tâm lý này, nhưng cũng có rất nhiều cộng đồng có sự nhạy bén với các hành vi “tôn vinh” tái lập định chế quyền lực giữa họ và nhóm đa số.

    c. Sáng tạo

    Ngoài 2 khía cạnh kinh tế và truyền thông, chia sẻ quyền lực sáng tạo cũng có thể giảm thiểu đáng kể rủi ro chiếm dụng. Trong các thực hành sáng tạo xuyên văn hoá, nhà thiết kế và nghệ sĩ thường nắm độc quyền sáng tạo, trong khi cộng đồng thiểu số chỉ đóng vai trò cung cấp chất liệu hoặc cảm hứng sáng tác. Tương tác một chiều này coi thực hành văn hóa thiểu số như 1 nguồn tài nguyên thụ động tách biệt khỏi cộng đồng con người tạo dựng ra nó, để nghệ sĩ đến lấy và nhào nặn thành 1 sản phẩm phù hợp hơn với thẩm mỹ “tiêu chuẩn.” Việc này tái thiết lập hệ thống thứ bậc trong hệ chính trị thẩm mỹ (politics of aesthetics – Rancière 2000) và củng cố niềm tin rằng thẩm mỹ văn hóa gốc của các nhóm thiểu số cần được nghệ sĩ hay nhà thiết kế đến từ ngoài cộng đồng biến tấu để “nâng giá trị.” Tuy cách làm này mang lại những lợi ích thực tế trong thị trường kinh tế văn hóa và sáng tạo, nó chưa thực sự mở rộng phạm vi cảm thụ thẩm mỹ của công chúng đa số để tiếp cận được thẩm mỹ gốc của nhóm thiểu số.

    Tuy nhiên, ngày càng có nhiều nghệ sĩ và nhà thiết kế nhận ra sức mạnh sáng tạo đến từ việc đồng sáng tác cùng cộng đồng nghệ nhân, như nhạc sĩ Trí Minh hay nhà thiết kế Vũ Thảo. Chia sẻ của các nghệ sĩ này cho thấy sự chuyển dịch từ cách làm việc truyền thống là nghệ sĩ yêu cầu nghệ nhân làm theo ý mình sang việc kết hợp tiếng nói sáng tạo của nghệ nhân để tạo ra 1 sản phẩm mang tư duy thẩm mỹ của cả 2 bên. Các cộng đồng thiểu số có thể có những góc nhìn khác với nhà thiết kế (NTK) hay nghệ sĩ người Kinh, và chính sự khác biệt này có thể tăng thêm sự mới mẻ đột phá cho sản phẩm thay vì hạn chế nó. Như nhà thiết kế Vũ Thảo chia sẻ, tính sáng tạo đến từ chính những tương tác đa chiều giữa nghệ sĩ/NTK và nghệ nhân/cộng đồng. Đồng sáng tác là một quá trình đàm phán và thích ứng liên tục và xuyên suốt, chứ không chỉ dừng ở sự cho phép của cộng đồng ở điểm đầu và cuối của quá trình sáng tạo. Nó có thể giúp cân bằng lại tương quan quyền lực sẵn có bằng cách tạo ra không gian để cộng đồng thiểu số tham gia trực tiếp vào quá trình sáng tác. Như vậy, trong sản phẩm cuối cùng, thứ mà công chúng tiếp cận được không chỉ là các thực hành văn hóa mà còn là cả tiếng nói và tư duy thẩm mỹ của các cộng đồng chủ thể. Tuy nhiên, nó cũng đòi hỏi sự cởi mở và niềm tin đến từ cả 2 bên, và nghệ sĩ thường phải đầu tư nhiều thời gian và công sức hơn so với sáng tác cá nhân. Ngoài ra, mặc dù đồng sáng tạo có thể giảm bớt đáng kể rủi ro chiếm dụng văn hóa, nhưng không có nghĩa là nó xóa bỏ hoàn toàn định chế quyền lực sẵn có. Tùy theo cách thức tương tác và mức độ chia sẻ, nó vẫn có thể tái lập định chế quyền lực ở một số khía cạnh nhất định.

    Chị Vũ Thảo đang thử nghiệm thuốc nhuộm tự nhiên trong studio (Nguồn: Julie Vola)

    Về trường hợp Lê Cát Trọng Lý

    Quay lại với vụ việc gần đây nhất liên quan đến chiếm dụng văn hoá là dự án Các khúc ca Việt cổ của Lê Cát Trọng Lý, cá nhân tôi không ngạc nhiên khi các lùm xùm nổ ra sau phỏng vấn của Lý với Vietcetera. Tuy là fan của Lý đã lâu, lần đầu nhìn thấy thông báo dự án trên trang Facebook tôi đã ít nhiều có dự cảm rằng dự án này có thể sẽ có vấn đề nếu không khéo léo. Dự cảm này phần nào dấy lên sau lần tôi đi dự concert của Lý và nhận ra Lý mặc một chiếc áo của người Dao đỏ ở Sapa. Lý nói về chiếc áo với một niềm thích thú hồn nhiên, bằng những từ ngữ như “hay” và “vui”, nhưng tuyệt nhiên không nhắc gì đến gốc gác văn hoá của nó. Tôi bỗng nhiên thấy mình có chút hẫng. Lý đã dành niềm yêu mến cho chiếc áo đó để mang lên sàn diễn, cũng đã dành thời gian để nói về nó với khán giả, thì giá như Lý chỉ cần đi thêm một bước là nhắc đến nguồn gốc của nó thì tôi nghĩ là sẽ trọn vẹn hơn. Khi xem các clip nhỏ Lý quay về quá trình thu thập và phối lại dân ca người Mông (trước bài phỏng vấn với Vietcetera), tôi cũng cảm nhận được ít nhiều sự “hồn nhiên” này của Lý.

    Tôi nghĩ rằng bản thân mong muốn tôn vinh dân ca của các tộc người thiểu số của Lý là rất đáng quý, nhất là khi cô tìm đến làm việc trực tiếp với các cộng đồng và cố gắng đưa sự hiện diện của họ vào buổi biểu diễn. Tuy nhiên, cách làm của Lý có đôi phần ngây thơ. Như việc đưa các nghệ nhân thiểu số lên sân khấu có thể xem là một bước đầu nỗ lực, nhưng chưa thật sự thấu đáo trong trong một số trường hợp. Như chị Nguyễn Thị Bích Tâm, cố vấn chương trình dân tộc thiểu số của Viện iSEE, chia sẻ trong buổi tọa đàm của Mạng lưới Tiên phong, sân khấu là một không gian mang nhiều quyền lực vô hình và hữu hình. Việc đưa các nghệ nhân thiểu số lên sân khấu một cách hình thức (tokenism) có thể gây áp lực tâm lý, dễ khiến họ trở thành đối tượng cho những tiếng cười và cái nhìn hiếu kỳ về sự bối rối “ngô nghê” của mình. Thay vì là những nhân vật quan trọng trong buổi diễn, họ ít nhiều trở thành đạo cụ (prop) cho sự sáng tạo cá nhân của nghệ sĩ.

    Là một nghệ sĩ nổi tiếng, Lý đã có thể hỗ trợ đưa tiếng nói của các cộng đồng thiểu số đến gần với công chúng hơn bằng cách hợp tác với các tổ chức hay hội nhóm sẵn có trong cộng đồng. Khi đọc thông báo về dự án, tôi đã rất mong Lý sẽ hợp tác với Mạng lưới Tiên Phong hay Action for Hmong Development (AHD), những tổ chức hoạt động văn hoá xã hội do chính người trong cộng đồng làm chủ và có tâm huyết sâu sắc với việc bảo tồn văn hóa của mình (nhất là AHD đã từng làm dự án về dân ca người Mông). Các tương tác xuyên văn hóa có thể mang đến cơ hội rất tốt để các nhóm thiểu số, vốn không nhiều sự hiện diện có chủ đích trong xã hội, có thể đưa ra tiếng nói và góc nhìn sáng tạo của mình đến với công chúng. Tôi hiểu rằng cái tôi cá nhân trong sáng tạo nghệ thuật là việc bình thường, và cũng không cho rằng các nghệ sĩ phải đóng vai nhà hoạt động xã hội. Nhưng ngay cả về khía cạnh sáng tạo, nếu Lý đi sâu thêm một bước để tiếp nhận những góc nhìn nghệ thuật từ chính các cộng đồng thay vì diễn dịch lại dân ca của họ thành một sản phẩm hay theo kiểu “người Kinh,” thì biết đâu chúng ta đã được hưởng những tác phẩm đồng sáng tạo mới mẻ và thú vị hơn nữa. Lý bắt đầu dự án với một ước muốn rất đẹp và cũng đã có những bước đầu đi đúng hướng, nhưng tôi có chút tiếc nuối khi cô đã bỏ lỡ cơ hội để đi xa hơn nữa.

    Tuy nhiên, tôi cũng cho rằng một số ý kiến lên án việc Lý chiếm dụng văn hoá cũng có thể đi xa hơn một bước. Không khó để nhận ra tâm thế “hồn nhiên” của Lý là rất phổ biến chứ không phải chỉ của một mình Lý, nhưng tại sao nó phổ biến thì các ý kiến phê phán này chưa chỉ ra sâu hơn. Do đó, thay vì phê phán cá nhân Lý, vụ việc này có thể là một cơ hội tốt để lật lại các vấn đề mang tính hệ thống trong bối cảnh cụ thể ở Việt Nam khi áp dụng lý thuyết hậu thuộc địa và nội thuộc địa. Từ đâu mà các tộc người thiểu số ở Việt Nam trở thành danh tính “người Việt”, như trong tên gọi dự án của Lý? Hệ thống diễn ngôn thống soái ở Việt Nam ảnh hưởng như thế nào đến cách các nghệ sĩ tiếp cận và tương tác với các cộng đồng thiểu số trong thực hành sáng tạo xuyên văn hoá? Có những điểm gì giống và khác khi nhìn về các quốc gia dân tộc đa văn hoá trong khu vực châu Á và Đông Nam Á? Đặt ra những câu hỏi này không phải để biện minh cho Lý, mà để nhìn rộng ra và thấy rằng Lý cũng đã có nhiều sự cố gắng đúng hướng, và sự “hồn nhiên” của cô không phải tự nhiên mà có, mà sinh ra từ các cấu trúc xã hội lớn hơn.

    Hạn chế 

    Có thể thấy chiếm dụng văn hóa là một khái niệm hữu ích để nhìn ra các tương quan quyền lực ẩn dưới những hành vi tưởng chừng vô hại. Tuy nhiên nó cũng dễ dẫn đến một cách nhìn tương đối hạn chế về sáng tạo xuyên văn hóa theo tư duy lưỡng nguyên giữa chiếm dụng (appropriation) và tôn vinh (appreciation). Trên thực tế, có thể hình dung các tương tác sáng tạo xuyên văn hóa trong một phổ liên tục (spectrum), với đa phần các thực hành nằm trong vùng xám giữa 2 điểm cực này. Rất nhiều thực hành mang cả các yếu tố chiếm dụng và tôn vinh cùng lúc. Ví dụ, nhiều trường hợp xuất phát từ mong muốn tôn vinh văn hóa thiểu số, nhưng do thiếu kiến thức và sự nhạy cảm văn hóa nên không đặt quyền tự chủ và tự quyết của cộng đồng làm trọng tâm, hoặc mặc định rằng họ có cùng mong muốn và tư duy về bảo tồn. Theo Susan Scaffidi (2006, 8-9), việc tôn vinh các yếu tố văn hóa của các nhóm người “khác” không phải lúc nào cũng đi liền với việc đề cao sự hiện diện và tiếng nói thật sự của chính những người “khác” này. Trên thực tế, đây là một hiện tượng phổ biến trong quá trình hòa nhập toàn cầu và thương mại hóa văn hóa. Nhìn các tương tác đa văn hóa trong một phổ liền mạch thay vì phân loại lưỡng cực cho phép chúng ta xem xét kỹ hơn các sắc thái khác nhau trong sáng tạo xuyên văn hóa tuỳ theo bối cảnh cụ thể, từ đó đưa ra các đánh giá tinh tế hơn thay vì kết luận tuyệt đối.

    Ngoài ra, các vụ việc về chiếm dụng văn hóa hiện nay thường chỉ hiện lên trong truyền thông về sản phẩm cuối cùng. Thế nhưng, để có thể đánh giá được xác đáng cần đến các thông tin cụ thể về cả quá trình thực hành sáng tạo. Có những thương hiệu hay nghệ sĩ đưa ra hình ảnh rất tốt, nhưng thực hành bên trong có những vấn đề gì thì chỉ người trong cuộc mới rõ, hoặc cũng có những người chú trọng ý kiến cộng đồng trong quá trình hoạt động nhưng lại mắc lỗi truyền thông. Những thông tin bên trong như vậy lại ít khi đến được với công chúng, nên đa phần các thực hành sáng tạo đa văn hóa đòi hỏi chúng ta đặt những câu hỏi sâu hơn trước khi đưa các đánh giá nhanh chóng và tuyệt đối.

    Kết

    Chiếm dụng văn hoá là một lời nhắc nhở cần thiết để các nghệ sĩ hay thương hiệu cẩn trọng hơn trong tương tác của mình với các cộng đồng thiểu số. Bên cạnh những yếu tố rõ ràng như tìm hiểu kỹ về văn hoá gốc, xin phép cộng đồng chủ thể và trích đúng nguồn gốc văn hoá, việc chia sẻ quyền lợi và quyền lực trong sáng tạo xuyên văn hoá cũng rất quan trọng. Nó góp phần dịch chuyển cán cân quyền lực và hỗ trợ đưa tiếng nói của các cộng đồng thiểu số đến gần công chúng hơn. Sự thiếu nhạy cảm và thấu đáo của các nghệ sĩ, nhà thiết kế hay doanh nghiệp người Kinh nhiều khi đến từ việc thiếu kinh nghiệm tiếp xúc và làm việc sâu với các cộng đồng thiểu số. Do đó, việc hợp tác với các tổ chức hoạt động văn hoá xã hội sẵn có trong các cộng đồng có thể mang đến những góc nhìn và kiến thức cần thiết cho các tương tác sáng tạo xuyên văn hoá. Tuy nhiên, chiếm dụng văn hoá nên được xem là một cơ hội để mở ra các đối thoại đa phương với mục đích trao đổi và thấu hiểu hơn là một thước đo đạo đức tuyệt đối để tránh rơi vào khuynh hướng săn phù thuỷ (witch-hunt) cực đoan.

    Trích dẫn

    Anderson, Benedict. Imagined Communities: Reflections on the Origin and Spread of Nationalism. Verso, 2006 [1983].

    Bayly, Susan. French Anthropology and the Durkheimians in Colonial Indochina. Modern Asian Studies, vol. 34, no. 3, 2000, pp. 581-622.

    Coutts-Smith, Kenneth. “Some General Observations on the Concept of Cultural Colonialism.” The Myth of Primitivism, edited by Susan Hiller. Routledge, 1991 [1976].

    Derrida, Jacques, and Maurizio Ferraris, A Taste for the Secret. Polity Press, 2001.

    Evans, Grant. “Internal Colonialism in the Central Highlands of Vietnam.” Sojourn: Journal of Social Issues in Southeast Asia, vol. 7, no. 2, 1992, pp. 274-304….

    #chiếmdụngvănhóa #sángtạo #vănhóa #xãhộithoại

  • Chiếm dụng văn hóa ở Việt Nam (P1) – Hà Yến Chi

    Chiếm dụng văn hóa ở Việt Nam (P1) – Hà Yến Chi

    Trong những năm gần đây, chủ đề chiếm dụng văn hóa (nguyên gốc: cultural appropriation) đã thu hút nhiều sự chú ý từ giới sáng tạo và nghiên cứu, cũng như các cộng đồng văn hoá và công chúng nói chung. Tuy việc vay mượn các yếu tố văn hóa của các tộc người thiểu số trong sáng tạo và kinh doanh tại Việt Nam là một hiện tượng không hề mới, nhưng dường như đến vụ việc Biti’s năm 2021 thì cái tên “chiếm dụng văn hóa” mới chính thức được nhắc đến trong hàng loạt các tranh luận trên truyền thông. Đa phần các ý kiến phê bình cho rằng các vay mượn văn hoá không đúng cách có thể tác động xấu đến cộng đồng chủ thể là các tộc người thiểu số vốn đã bị lề hóa trong một xã hội do người Kinh chiếm đa số.

    Giày Biti’s gây tranh cãi về chiếm dụng văn hóa của cộng đồng người Chăm (Nguồn ảnh: Biti’s Việt Nam)
    Giày Biti’s gây tranh cãi về chiếm dụng văn hóa của cộng đồng người Chăm (Nguồn ảnh: Biti’s Việt Nam)

    Nguồn gốc khái niệm chiếm dụng văn hóa

    Cụm từ “cultural appropriation” được nhắc đến nhiều trên internet từ khoảng những năm đầu 2010s ở các nước phương Tây. Bản thân thuật ngữ này trong học thuật vốn mang nghĩa trung lập, dùng để chỉ chung các hiện tượng vay mượn các thực hành và tri thức văn hóa, sản phẩm trí tuệ, di tích và di sản,… từ một nhóm văn hóa khác văn hoá gốc của mình (Young 2008). Trước đây, từ “appropriation” còn được dùng để chỉ việc một nhóm yếu thế tiếp nhận các thực hành văn hóa từ nhóm ưu thế và biển đổi nó cho phù hợp với hoàn cảnh của mình như một chiến lược để thích nghi và tồn tại trong một xã hội không đảm bảo quyền bình đẳng cho họ.

    Khái niệm vay mượn văn hoá với hàm ý tiêu cực như hiện nay xuất phát từ các phân tích hậu thuộc địa (post-colonialism) trong các thập niên 70-80s để phê phán các hành vi thực dân văn hóa, khi nhóm ưu thế lấy đi không chỉ tài nguyên tự nhiên hay vật chất, mà cả tài nguyên văn hoá từ nhóm yếu thế để phục vụ cho mục đích riêng (Coutts‐Smith 1976). Đến những năm 1990s, thuật ngữ “chiếm dụng văn hoá” trở nên phổ biến khi nhắc đến hiện tượng này (Ziff & Rao 1997). Nó chỉ ra các bạo lực ngầm về văn hóa dựa trên sự mất cân bằng quyền lực mang tính hệ thống giữa các tộc người trong lịch sử của chủ nghĩa thực dân. Một số học giả gọi những hành vi vay mượn mang tính tiêu cực này cụ thể hơn là “objectionable cultural appropriation” (Young 2008) (tạm dịch : chiếm dụng văn hóa đáng lên án) hoặc “cultural misappropriation” (Scaffidi 2005) (tạm dịch : sai phạm chiếm dụng văn hóa).

    Một số luận điểm chính về chiếm dụng văn hóa

    Phân loại thực hành chiếm dụng văn hóa 

    James O. Young (2008) phân các thực hành tiếp dụng văn hoá thành 3 loại tuỳ theo đối tượng được vay mượn: vật chất, nội dung, và chủ thể (góc nhìn người trong cộng đồng). 

    1. Loại thứ nhất liên quan đến các vật thể hữu hình, ví dụ như việc các bảo tàng lớn ở các nước phương Tây vẫn nắm giữ nhiều cổ vật từ các nước thuộc địa cũ. 

    2. Loại thứ hai tập trung vào các tài nguyên văn hoá vô hình như các thực hành, nghỉ lễ, nghệ thuật, tri thức,… Đa phần các hành vi chiếm dụng văn hoá được nhắc đến trên mạng xã hội hiện nay rơi vào loại này. 

    3. Loại thứ ba xảy ra khi nhóm ưu thế lấy đi tiếng nói của nhóm yếu thế để nói về chính họ, ví dụ như hiện tượng whitewashing (dùng diễn viên da trắng để đóng các nhân vật da màu) ở Hollywood. 

    Richard A. Rogers (2006) lại phân các hành vi tiếp dụng thành 4 loại dựa theo tương quan quyền lực và chiều hướng vay mượn: trao đổi (khi nhóm vay mượn và nhóm chủ thể ngang nhau về quyền lực), thống trị (khi nhóm yếu thế vay mượn từ nhóm ưu thế), bóc lột (khi nhóm ưu thế vay mượn từ nhóm yếu thế), và xuyên văn hoá (khi thực hành mang tính đa tầng đa chiều và hỗn hợp, thường xảy ra trong quá trình toàn cầu hoá và chủ nghĩa tư bản xuyên quốc gia).

    Các luận điểm chính về thực hành chiếm dụng văn hóa

    Nhiều nhà nghiên cứu và phê bình nghệ thuật đã chỉ ra một số luận điểm để đánh giá một thực hành vay mượn văn hóa có phải là sai phạm chiếm dụng hay không. Những luận điểm này có thể tổng hợp thành 4 loại chính như sau (Young 2008, Siems 2019, Nguyen & Strohl 2019): 

    1. tổn hại (bao gồm sai lệch hay xuyên tạc thông tin, tái diễn các hình ảnh rập khuôn, thiệt hại kinh tế)

    2. xúc phạm (bao gồm thiếu tôn trọng, sử dụng sai cách, vi phạm tính thiêng hoặc tính riêng tư, thiếu nhạy cảm về lịch sử văn hoá)

    3. xâm phạm quyền sở hữu (không minh bạch nguồn gốc, không có sự cho phép của cộng đồng)

    4. suy giảm chất lượng (về thẩm mỹ hay tính chân thực (authenticity)) 

    Các lập luận này không nhất thiết tách bạch với nhau, mà có thể cùng tồn tại trong các trường hợp chiếm dụng. Ví dụ, vụ việc Fband sử dụng khăn piêu của người Thái làm khố khi biểu diễn đã xúc phạm đến tính thiêng của chiếc khăn piêu đội đầu với người Thái, đồng thời có thể phát tán thông tin sai lệch về cách dùng và ý nghĩa của nó. Hay như vụ việc tổ chức ăn tiệc tại tháp Po Klong Garai năm 2020 vừa xâm phạm đến quyền sở hữu văn hoá vừa thiếu tôn trọng luật tục tâm linh của cộng đồng Chăm tại Ninh Thuận.

    Trong các lập luận này, hai tiêu chí được cho là quan trọng nhất để xem xét tính chiếm dụng của một thực hành vay mượn văn hoá là tương quan quyền lực và ý kiến cộng đồng chủ thể.

     

    Tiêu chí về tương quan quyền lực 

    Lý thuyết về “tính áp chế” (oppression account) của Erich Matthes (2019) ưu tiên yếu tố thứ nhất, rằng để đánh giá một thực hành vay mượn có phải là chiếm dụng hay không, cần cân nhắc xem nó có tái diễn hoặc làm tăng thêm khoảng cách quyền lực sẵn có giữa nhóm vay mượn và nhóm chủ thể hay không. Lý thuyết này lý giải tại sao chiếm dụng văn hóa thường xảy ra khi nhóm đa số hoặc chiếm ưu thế vay mượn từ nhóm thiểu số hay yếu thế, mà không phải ngược lại. Nó cũng cho rằng một hành vi có thể bị coi là chiếm dụng mà không cần nhóm chủ thể phải trực tiếp lên tiếng. Do đó, nó đặc biệt hữu dụng trong những trường hợp mà cộng đồng yếu thế ít cơ hội phản biện trực tiếp, hoặc khi tiếng nói của họ ngay cả khi cất lên cũng khó đến được với công chúng. (Lý thuyết gia hậu thuộc địa nổi tiếng Gayatri Chakravorty Spivak đã phân tích hiện tượng “mất tiếng” này trong bài luận Can the subaltern speak?). Lý thuyết của Matthes cũng xét đến tính giao thoa của tương quan quyền lực, bao gồm không chỉ văn hoá tộc người mà cả địa vị kinh tế xã hội, trình độ học vấn, địa lý, v.v… Theo đó, chênh lệch quyền lực giữa cộng đồng bản địa với một tập đoàn lớn hay thương hiệu quốc tế và với một thương lái địa phương hay thương hiệu thủ công quy mô nhỏ sẽ rất khác nhau.

    Tuy nhiên, lý thuyết này ít cân nhắc đến rủi ro chiếm dụng văn hóa giữa các nhóm thiểu số với nhau. Nhà thiết kế Sa Bình (người Mông quê gốc ở Điện Biên, hiện đang làm việc tại Sài Gòn) cho biết cũng có một số thương buôn người Mông kinh doanh thổ cẩm dân tộc Thái nhưng nói là vải người Mông, gây ra ý kiến phản đối trong cả cộng đồng người Mông và người Thái. Ngoài ra, tương quan quyền lực giữa các tộc người không phải lúc nào cũng rõ ràng mà có thể thay đổi tuỳ theo phạm vi quan sát. Một nhóm có thể là yếu thế trong xã hội quốc gia, nhưng lại chiếm ưu thế ở địa phương.

    Ví dụ, nghiên cứu của Sarah Turner (2007) chỉ ra rằng trong chuỗi cung ứng thương mại thổ cẩm ở Sapa, ngoài người Kinh, người Tày cũng thường chiếm ưu thế và nắm giữ những vị trí có lợi nhuận cao hơn nhiều so với người Mông và người Dao – những người trực tiếp chế tác nhưng có xu hướng kinh doanh nhỏ theo cá nhân hoặc hộ gia đình.

    Thổ cẩm đầy sắc màu tại Sapa và câu chuyện rủi ro chiếm dụng văn hóa 
    Thổ cẩm đầy sắc màu tại Sapa và câu chuyện rủi ro chiếm dụng văn hóa 

    Tiêu chí về ý kiến của cộng đồng chủ thể

    Lý thuyết về “tính thân mật” (intimacy account) của Thi C. Nguyen và Matthew Strohl (2019) lại tập trung vào tiêu chí thứ hai – sự đồng thuận của chủ thể văn hóa. Nó cho rằng có những thực hành văn hóa mang tính “thân mật,” tức là có vai trò gắn kết những người cùng cộng đồng trong một căn tính tập thể, và việc người ngoài xâm phạm đến các thực hành này dễ trở thành chiếm dụng. Theo lý thuyết này, cộng đồng chủ thế nắm quyền quyết định cao nhất để đánh giá một thực hành có phải là chiếm dụng hay không, bất kể bản chất của nó là như thế nào.

    Tuy nhiên, ý kiến cộng đồng chủ thể không phải lúc nào cũng hiển lộ và thống nhất. Tính chiếm dụng càng cao thì cộng đồng càng dễ có tiếng nói chung. Do đó, các trường hợp xúc phạm văn hóa hay xâm phạm tính thiêng thường thu hút phản ứng rõ ràng hơn từ phía cộng đồng. Thế nhưng, đối với các thực hành tiếp dụng văn hóa nằm ở vùng xám, ngay cả cộng đồng chủ thể cũng khó đưa ra phán quyết rõ ràng, chưa kể ngay trong cùng một cộng đồng cũng có các luồng ý kiến khác nhau. Do vậy, một thực hành có thể nhận được cả sự đón nhận và phản đối từ cộng đồng chủ thể.

    Ví dụ, qua trao đổi với Mùa Mua và Tuam Khaab, 2 cựu thành viên của AHD (Action for Hmong Development) và hiện đang điều hành dự án Ná Nả, bộ phim “Lặng yên dưới vực sâu” về người Mông ở Hà Giang nhận được khá nhiều sự ủng hộ từ khán giả trẻ người Mông, nhưng cũng có nhiều ý kiến cho rằng đây là chiếm dụng chủ thể văn hoá, vì đoàn làm phim và diễn viên người Kinh khó có thể khắc họa chính xác về cuộc sống và góc nhìn của người Mông.

    Bộ phim Chuyện của Pao chưa tập trung khai thác vào tiếng đàn môi của Pao mà tập trung vào tiếng sáo của Chử, làm lệch đi góc nhìn về giới.
    Bộ phim Chuyện của Pao chưa tập trung khai thác vào tiếng đàn môi của Pao mà tập trung vào tiếng sáo của Chử, làm lệch đi góc nhìn về giới.

    Bài viết của anh Tuam Khaab về Văn hóa dân tộc thiểu số trên điện ảnh Việt được viện iSee đăng 

    Bài viết phân tích của Tuam Khaab về văn hóa Mông qua điện ảnh Việt Nam trên báo Nghệ An

    (Còn tiếp)

    #chiếmdụngvănhóa #sángtạo #vănhóa #xãhộithoại

  • Khởi nghiệp “Start-up” ở Việt Nam: làm sao cho đúng?

    Khởi nghiệp “Start-up” ở Việt Nam: làm sao cho đúng?

    Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê cho biết Việt Nam hết năm 2022 sẽ đạt khoảng 1 triệu doanh nghiệp. Đây là một con số được đưa ra dựa trên cơ sở khoa học, bởi môi trường kinh doanh của Việt Nam đang không ngừng được cải thiện, lại có nhiều cơ chế cùng với chính sách khuyến khích đầu tư, các hoạt động sản xuất kinh doanh. Tất cả đang cho thấy rằng đất nước đang phát triển này đang mang đậm trên người một tinh thần “quốc gia khởi nghiệp”. 

    Khởi nghiệp là gì và vì sao khởi nghiệp? 

    Để hiểu rõ hơn khởi nghiệp là gì thì trước tiên cần phải đề cập đến tinh thần khởi nghiệp – một phạm trù rộng lớn hớn. Tinh thần khởi nghiệp của Việt Nam thật ra đã xuất hiện từ những năm của thế kỉ 19 – thế kỉ 20, khi đất nước bắt đầu có sự giao thương mở rộng với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Trong giai đoạn này, dù vẫn còn chịu sự khống chế của thực dân nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn tự hào với những cái tên nổi tiếng như Bạch Thái Bưởi trong ngành tàu thủy, Nguyễn Sơn Hà với sơn Gecko, Trương Văn Bền với xà bông Cô Ba… 

    Xà bông Cô Ba - Cuộc hồi sinh bất thành | Advertising Vietnam
    Hình ảnh xà bông Cô Ba nổi tiếng một thời, hàng Việt Nam chất lượng cao

    Nguồn: Advertising Việt Nam

    Sau thời kì đất nước thống nhất, đặc biệt là giai đoạn Đổi Mới (1986) với cú hích mở cửa nền kinh tế đã thật sự tạo nên một sự cổ vũ to lớn cho các tinh thần khởi nghiệp. Tuy nhiên, mãi cho đến năm 2016, Chính phủ Việt Nam lấy là năm của “Quốc gia khởi nghiệp”, thì câu chuyện khởi nghiệp mới chính thức trở thành một đề tài nóng, một câu chuyện đáng được bàn tán, và một giấc mơ đáng để theo đuổi cho bất kì cá nhân nào có ý tưởng và tinh thần “liều mạng”. Bởi không chỉ vì sự khuyến khích của Nhà nước, mà hình ảnh của những con “kỳ lân” vươn mình xuất hiện đầy rẫy trên các phương tiện truyền thông rõ ràng đã trở thành giấc mơ của không biết bao nhiêu người trên đất nước có nền kinh tế đang phát triển này. 

    Top 10 công ty kỳ lân lớn nhất thế giới
    Bức tranh kỳ lân của thế giới đã rất chật chội, chỗ đứng nào sẽ dành cho các “kỳ lân non” tiếp theo?

    Nguồn: investup

    Khởi nghiệp hay “khởi nghiệp”? 

    Khởi nghiệp có thể là khởi đầu một sự nghiệp, nhưng cũng có thể là khởi động cho một gánh nặng lâu dài về sau. Theo TS. Mai Hữu Tín, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Đầu tư U&I, số người trẻ kinh doanh thành công chiếm tỷ lệ nhỏ một phần do thiếu kiến thức cần có của một doanh nhân. Cụ thể thì ở Việt Nam, số doanh nghiệp khởi nghiệp được “ăn sinh nhật lần thứ 2” chiếm không quá 5% – một tỉ lệ quá thấp cho rất nhiều ước mơ quá cao của những người trẻ đầy hoài bão. 

    Best Premium Business startup plan failure Illustration download in PNG & Vector format
    Câu chuyện thất bại đã không còn quá xa lạ

    Nguồn: IconScout

    Con số này cho thấy, song song với những mảng hồng được truyền thông phơi bày, thì thị trường start-up hiện nay đang trở nên rất khốc liệt, nhưng chúng ta phải thừa nhận một điều rằng phải có sự cạnh tranh như thế thì thị trường mới có cơ hội trưởng thành hơn. Trong tương lai, tỉ lệ thành công có thể chỉ quanh quẩn ở con số nhỏ, nhưng sức ép của thị trường sẽ khiến cho những start-up thành công ngày càng phải nỗ lực để chứng tỏ giá trị của mình đối với thị trường và cả người tiêu thụ. 

    Có một sự thật đáng buồn hơn, là đôi khi các start-up cũng phải rất vất vả để…biết dự án của mình có thất bại hay không. Mặc dù, tinh thần khời nghiệp được xếp vào nhóm cao trên thế giới, nhưng Việt Nam lại thuộc top 20 quốc gia có khả năng thực thi dự án khởi nghiệp thấp nhất (số liệu 2019), và thậm chí chỉ có khoảng 3% được gọi là thành công. Như vậy, khoảng cách giữa khát vọng, ý chí và hành động cụ thể đang là quá lớn để có thể nghĩ đến những câu chuyện xa vời hơn. 

    Khởi nghiệp làm sao cho đúng? 

    Câu chuyện khởi nghiệp chưa bao giờ là đơn giản. TS. Lý Quí Trung chia sẻ rằng cuộc sống của doanh nhân không có ai suôn sẻ. Vì vậy, trước khi quyết định kinh doanh, người trẻ cần dành thời gian để trao dồi, tích lũy kiến thức để hạn chế rủi ro đầu tư.  

    Đáp ứng bối cảnh của thị trường 

    Theo TS. Lý Quí Trung, việc đào tạo doanh nhân tương lai cần đáp ứng được hai bối cảnh, gồm: sự phát triển của 4.0 và bất định bởi Covid-19. Đây là hai yếu tố có sức ảnh hưởng rất lớn với xã hội nói chung và thị trường kinh tế nói riêng. Covid 19 đi qua đã để lại sự thay đổi to lớn trong thói quen của người tiêu dùng, đòi hỏi nhà kinh doanh cần phải nắm bắt nhanh chóng để theo đuổi một xu thế tất yếu của xã hội. 

    Cân bằng cảm xúc và lý tính

    Việc đầu tư dài hạn cho bất kì điều gì cũng cần có sự tập trung cao độ.  TS. Mai Hữu Tín cho rằng doanh nhân hiện nay không chỉ phân tích theo lý tính, mà còn cần có thêm cảm tính, tức cân bằng IQ và EQ. Thực hiện được điều này, con đường đầu tư sẽ có khả năng phấn đấu và phát triển lâu dài hơn. “Khi cân bằng được cuộc sống, việc vận hành doanh nghiệp cũng sẽ cân bằng theo, đồng thời, mang lại nhiều giá trị mang tính dài hạn, bền vững cho xã hội hơn”

    Tìm hiểu thành công của những đối thủ trước 

    Để có thể nhanh chóng tìm được chỗ đứng cho mình trên thương trường, mọi người có thể cân nhắc xem xét qua những phân tích về thành công của những kỳ lân đi trước. Bài viết này có đính kèm tài liệu, mọi người có thể xem qua tại đây

     Tham khảo: 

    1. Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam và một số giải pháp đề xuất 

    2. Vì sao chỉ dưới 5% start-up Việt “được” tổ chức sinh nhật lần 2?

    3. Báo cáo chính sách DNVVN và khởi nghiệp tại Việt Nam 

    4. [KOCCA] Startup Report

    5. ‘Tỷ lệ người trẻ kinh doanh thành công ở Việt Nam không quá 5%’

    #đầutư #khởinghiệp #startup #doanhnghiệp #ViệtNam #thịtrường #chínhsách

  • ESP 3: Vượt qua áp lực đồng trang lứa để tự định nghĩa sự thành công – Diệp Hồng Vy

    ESP 3: Vượt qua áp lực đồng trang lứa để tự định nghĩa sự thành công – Diệp Hồng Vy

    Diệp Hồng Vy - Chủ tịch AIESEC Vietnam
    Diệp Hồng Vy – Chủ tịch AIESEC Vietnam

    Theo bạn, thế nào là một công việc thành công? Sỡ hữu một vị trí thật oách , làm ở một công ty thật xịn, hay có được mức lương cao ngất ngưỡng, liệu thành công còn có thể định nghĩa ở những góc độ khác trong công việc mình làm?

    Cô gái cựu sinh viên Ngoại thương năng động Diệp Hồng Vy hiện đang là Chủ tịch của AIESEC Vietnam, một tổ chức phát triển năng lực lãnh đạo của thanh niên phi lợi nhuận toàn cầu, một công việc khá khác so với các con đường định sẵn khá phổ biến của các bạn đồng trang lứa. Áp lực đồng trang lứa – Lý do vì sao Vy lại quyết định đeo đuổi con đường riêng này để tự định nghĩa cho mình về sự thành công trong công việc, mời bạn hãy cùng tìm hiểu câu chuyện sau đây.

    Nếu bạn mong muốn nhận được những thông tin, chia sẻ hữu ích về phát triển bản thân hàng tuần từ Dear Our Community, nhấn vào đây.

    Xem nội dung phỏng vấn trên Youtube

  • Công việc của bạn, quyết định của AI?

    Công việc của bạn, quyết định của AI?

    Những gì Covid-19 đi qua đã để lại cho ta không ít những điều tưởng chừng sẽ rất khó xảy ra và trong đó câu chuyện nhiều doanh nghiệp tiến hành cắt giảm nhân sự, thu hẹp quy mô, tối ưu hoá chi phí, đóng cửa văn phòng, tuyển dụng trực tuyến cũng không ngoại lệ. Ở giai đoạn “bình thường mới” đi kèm với sự phát triển nhanh chóng của thời đại “AI ở mọi nơi ”, con người ta sẽ khó mà đoán trước được một viễn cảnh tương lai như thế nào. 

    Thế nhưng, AI không còn chỉ là một trợ thủ đắc lực cho việc tính toán các con số rắc rối để phân tích dữ liệu nhanh chóng nữa. Giờ đây, chúng ta đang thấy AI xuất hiện trực tiếp hơn trong nhiều nỗ lực với con người, như tuyển dụng và phỏng vấn. Xu hướng ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong tuyển dụng đang được ngày càng nhiều tổ chức sử dụng để phỏng vấn và đánh giá một ứng viên trước khi một người nói chuyện hoặc gặp gỡ họ.

    rô bốt tuyển dụng (robot recruiters)
    Rô bốt tuyển dụng (robot recruiters)

    Các rô bốt tuyển dụng (robot recruiters) là những rô bốt có thể tự thực hiện các cuộc phỏng vấn video, điều này giúp các công ty mở rộng nguồn ứng viên tuyển dụng và đảm bảo rằng các phương thức tuyển dụng vẫn nhất quán. Tất nhiên, hình thức tuyển dụng do AI can thiệp đi kèm với những thiếu sót tiềm ẩn của nó, nhưng Theo báo cáo của LinkedIn, năm 2020, 56% công ty nhân sự đang sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để tuyển dụng nhân tài và con số này được dự báo tăng lên 77% vào năm 2023.

    Vai trò ngày càng tăng của AI trong việc tuyển dụng

    Trí tuệ nhân tạo (AI) đang xuất hiện ở khắp mọi nơi trong quy trình tuyển dụng và đánh giá ứng viên. Có bốn loại công nghệ tự động hóa do trí tuệ nhân tạo điều khiển: 

    1. Lên lịch phỏng vấn

    Hầu hết các công ty hiện nay đều tự động hóa quá trình lên lịch phỏng vấn, sử dụng trí thông minh nhân tạo để chọn lọc các ứng viên và gửi lời mời phỏng vấn qua email thông qua hệ thống theo dõi ứng viên của họ.

    2. Video không đồng bộ

    Sự phát triển lớn tiếp theo trong tự động hóa phỏng vấn là video không đồng bộ, theo đó ứng viên có thể quay video lại câu trả lời của họ cho các câu hỏi phỏng vấn để nhà tuyển dụng xem xét sau.

    3. Vấn đáp với trí tuệ nhân tạo

    Trò chuyện với phần mềm được hỗ trợ bởi AI thường được sử dụng trong giai đoạn sàng lọc ứng viên, thay vì giai đoạn sau của các cuộc phỏng vấn truyền thống. Người nộp đơn có cơ hội cung cấp thông tin trong một cuộc trò chuyện giống như SMS hoặc tin nhắn và thường cho phép người nộp đơn dành thời gian trả lời.

    4. Đánh giá ứng cử viên tự động theo “học máy” (machine learning)

    Loại đánh giá tiên tiến nhất trong không gian trí tuệ nhân tạo hiện nay là khả năng cho điểm ứng viên dựa trên video phản hồi của họ, giúp nhà tuyển dụng sàng lọc và tiết kiệm thời gian cho những đánh giá ban đầu của riêng họ.  

    Cụ thể như việc áp dụng phỏng vấn bằng trí tuệ nhân tạo (AI) của công ty Mars tại Trung Quốc thông qua nhiều biểu hiện trên khuôn mặt, cử chỉ, giọng nói và câu trả lời của ứng viên, từ đó lựa chọn ra được ứng viên tốt nhất cho từng vị trí. Không chỉ giúp chấm điểm ứng cử viên một cách toàn diện, giám khảo trí tuệ nhân tạo còn giúp các nhà quản lý xử lý số lượng lớn các trường hợp xin việc tuyển dụng như công ty Mars, nơi đang nhận hơn 50 000 đơn xin việc cho chỉ vài trăm vị trí tuyển dụng. Như bà Ada Fang, giám đốc nhân sự Công ty Mars chia sẻ: “Không có trí tuệ nhân tạo thfi chúng tôi phải xử lý số trường hợp xin việc này trong hơn 1 tháng, giờ thì chỉ cần 2 tuần để giải quyết việc này”

    Bối cảnh AI với Việt Nam

    Nguồn: T&A Ogilvy
    Nguồn: T&A Ogilvy

    Tại hội thảo trực tuyến “Ứng dụng AI trong tuyển dụng” do MVV Everlearn tổ chức, bà Nguyễn Diệu Cầm, Tổng giám đốc T&A Ogilvy, cho rằng “Trí tuệ nhân tạo là “hiện thực mới” của ngành nhân sự, mở ra cánh cổng đối thoại trực tiếp với ứng viên và giúp tự động hoá quy trình tuyển dụng”

    Mới đây, VnExpress đã ra mắt nền tảng eWork, giải pháp tuyển dụng bằng AI và quảng bá thương hiệu nhà tuyển dụng đa kênh. eWork giải quyết bài toán tuyển dụng của doanh nghiệp và ứng viên với sự kết hợp của hai yếu tố công nghệ và truyền thông. Trong đó, trí tuệ nhân tạo của giải pháp eWork AI, với khả năng sàng lọc trong kho dữ liệu 2,5 triệu CV, sẽ giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian tuyển dụng ứng viên xuống 3 lần và tiết kiệm tới 85% chi phí. Doanh nghiệp tham gia eWork được quyền đăng tin tuyển dụng miễn phí trọn đời.

    Các vấn đề tiềm ẩn với người tuyển dụng robot – AI

    Trở ngại với các bài đánh giá bằng AI là các ứng viên có thể thậm chí không biết các tiêu chí đánh giá là gì và làm thế nào để trả lời cho phù hợp. Cũng có nhiều lo ngại về cách AI diễn giải các tín hiệu bằng lời nói và hình ảnh có thể tạo ra sự sai lệch. Các công ty sản xuất công nghệ video phỏng vấn AI tự hào về khả năng không chỉ nâng cao hiệu quả mà còn nâng cao tính công bằng trong quá trình đánh giá. Họ nói rằng AI có thể loại bỏ nhiều lỗi của con người – nó miễn nhiễm với sự phân tâm và sức hút của con người, không bao giờ mệt mỏi hay cáu kỉnh và luôn làm theo kịch bản. 

    Tuy nhiên, các thuật toán AI được sử dụng bởi các nhà tuyển dụng robot này đã được phát hiện có khả năng sao chép thành kiến ​​của con người, ngay cả khi vô ý. Một số thuộc tính hoặc đặc điểm nhất định của con người có thể được liên kết không công bằng với chất lượng ứng viên và một số thuật ngữ nhất định có thể dẫn đến đánh giá thiên lệch. Trong một ví dụ nổi tiếng , Amazon đã từ bỏ công cụ chấm điểm ứng viên AI thử nghiệm của mình vì nó được cho là có thành kiến ​​với phụ nữ. Công cụ AI đã được đào tạo để nhận ra các thuật ngữ từ hồ sơ ứng viên trước đây, phần lớn trong số đó là nam giới. Và nó có xu hướng nhận ra các thuật ngữ được nam giới sử dụng thường xuyên hơn.

    Chỉ số đầu người trên toàn cầu của Amazon
    Chỉ số đầu người trên toàn cầu của Amazon

    Một viễn cảnh giao thoa giữa con người và robot AI

    Không thể phủ nhận rằng robot có thể được áp dụng cho nhiều nhiệm vụ tuyển dụng và hợp lý hóa quy trình tuyển dụng, nhưng công nghệ chỉ có thể tiến xa cho đến nay. Ví dụ: AI trong xác minh lý lịch có thể xác minh dữ liệu ứng viên trên các tập dữ liệu lớn, nhưng chỉ nhà tuyển dụng mới có thể đánh giá xem ứng viên có tính cách phù hợp hoặc phù hợp với văn hóa nơi làm việc hay không. Tương tự, thu hút các ứng viên thụ động hoặc tìm kiếm tài năng nội bộ chủ yếu vẫn là nhiệm vụ của con người; rô bốt có thể giúp tích lũy dữ liệu có thể giúp nhà tuyển dụng đưa ra quyết định sáng suốt. 

    ​​

    Viễn cảnh giao thoa giữa con người và robot AI
    Viễn cảnh giao thoa giữa con người và robot AI

    Trên thực tế, nền kinh tế công nghệ mới sẽ tạo ra nhiều việc làm hơn cho con người – trong các lĩnh vực mới hơn!

    Ví dụ, cuộc khảo sát của Citrix tiết lộ rằng các nhà lãnh đạo và nhân viên của C-suite tin rằng những loại công việc mới này sẽ được tạo ra do sự bao gồm của robot và AI trong các tổ chức:

    1. Huấn luyện viên robot / AI (82% lãnh đạo / 44% nhân viên)

    2. Quản lý thực tế ảo (79% lãnh đạo / 36% nhân viên)

    3. Nhà khoa học dữ liệu tiên tiến (76% lãnh đạo / 35% nhân viên)

    4. Người quản lý quyền riêng tư và tin cậy (68% lãnh đạo / 30% nhân viên)

    5. Nhà tư tưởng thiết kế (56% lãnh đạo / 27% nhân viên)

    Trí tuệ cảm xúc và xã hội chỉ có ở con người là chìa khóa để kết hợp đúng ứng viên với đúng công ty. Nếu được sử dụng hiệu quả, robot có thể giúp các nhà tuyển dụng giải quyết các công việc lặp lại và tốn thời gian, đồng thời cho phép con người hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ mang tính cá nhân hóa cao và quan trọng. Robot trong việc tuyển dụng có thể tiết kiệm rất nhiều thời gian, có thể được sử dụng để điều chỉnh các nhiệm vụ phức tạp khác và các lĩnh vực quan trọng. Trí óc và máy móc, khi kết hợp với nhau, có thể hình dung lại việc tuyển dụng và đưa nó lên cấp độ tiếp theo.

    Nói một cách thống kê, sự kết hợp giữa trí óc và máy móc sẽ làm tăng năng suất của ngành tuyển dụng lên gấp 2 lần , theo các nhà lãnh đạo và nhân viên được khảo sát cho Work 2035.

    Lời kết

    Sự giao thoa giữa trí óc và máy móc, tuyển dụng rô bốt và tuyển dụng con người có thể nâng cao và tối ưu hóa quy trình tuyển dụng. Trí thông minh của con người là điều cần thiết để tuyển dụng nhưng robot có thể giúp tăng cường nó. Thay vì lo sợ hoặc tưởng tượng về tương lai của việc tuyển dụng, các nhà lãnh đạo nhân sự nên tạo ra tương lai của việc tuyển dụng bằng cách kết hợp những gì tốt nhất của robot và con người. 

    Nguồn tham khảo:

    The Emergence of AI-powered Robot Recruiters, and What It Means for Job Seekers

    The future of recruiting: Is it more robots or more humans?

  • Kỹ năng Thế giới mong đợi ở tôi

    Kỹ năng Thế giới mong đợi ở tôi

    Dịch bệnh COVID-19 qua đi để lại áp lực phục hồi rất lớn cho nền kinh tế thế giới. Trong đó các nền kinh tế đều được dự báo sẽ đi theo hướng tự động và kỹ thuật số hóa, đòi hỏi sự phát triển của các loại hình giáo dục phi truyền thống để theo kịp với nhu cầu về kỹ năng của thị trường. 

    Con người cần được đầu tư về kỹ năng (Ảnh: People Matters)
    Con người cần được đầu tư về kỹ năng (Ảnh: People Matters)

    I. TỔNG QUAN XU HƯỚNG KỸ NĂNG TOÀN CẦU 

    Bản Báo cáo Kỹ năng toàn cầu của Coursera [1] cho thấy tình hình tổng quan của nền kinh tế mới như sau: 

    1. Khả năng sử dụng kỹ thuật số là ngôn ngữ chung của nền kinh tế hiện đại. Có thể tất cả không nhất thiết phải biết lập trình, nhưng cần khả năng làm việc trên nền tảng số. Những kỹ năng phổ biến nhất trong năm qua nằm ở lĩnh vực công nghệ và khoa học dữ liệu, lần lượt là lý thuyết khoa học máy tính, xác suất và số liệu thống kê.

    2. Phụ nữ tham gia vào nền kinh tế đang tăng lên. Tuy nhiên phụ nữ thuộc khối ngành STEM cần được hỗ trợ nhiều hơn nữa. 

    3. Các quốc gia đang phát triển có tỷ lệ người học cao nhất. Trong khi người học tăng lên ở mọi khu vực trên thế giới, Châu Á – Thái Bình Dương và Châu Phi cận Sahara có tỷ lệ phần trăm người học kỹ năng cao nhất. Người học ở các nước đang phát triển cho thấy mức độ thông thạo kỹ năng kinh doanh cao, nhưng điểm thấp hơn trong công nghệ và khoa học dữ liệu.

    4. Mức độ truy cập Internet tương đồng với mức độ thành thục kỹ năng. Internet có thể đem đến sự bình đẳng về mặt tiếp cận tri thức, nhưng tỉ lệ truy cập internet không bình đẳng giữa các quốc gia. 

    5. Các quốc gia phát triển học vè kỹ năng con người, những quốc gia đang phát triển chú trọng hơn vào kỹ năng kỹ thuật số. 

    6. Châu Âu dẫn đầu thế giới về trình độ kỹ năng. Bảy trong số mười quốc gia đạy được kết quả tốt nhất trong báo cáo của năm nay nằm ở châu Âu. Ngoài ra, người học ở Thụy Sĩ đạt được mức tổng hợp thành thạo kỹ năng cao nhất trong hai năm liên tiếp.

    7. Sự thành thạo về kỹ năng công nghệ và khoa học dữ liệu thay đổi đa dạng trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Được thúc đẩy bởi những người học hoạt động tốt nhất trên thế giới trong lĩnh vực công nghệ và kỹ năng khoa học dữ liệu, Indonesia tăng 39 vị trí trong bảng xếp hạng trình độ kỹ năng tổng hợp của năm nay. Tuy nhiên, trong các khu vực khác của khu vực, chẳng hạn như Ấn Độ, Đài Loan và Philippines, người học tụt lùi về kỹ năng kỹ thuật số cần thiết để tăng trưởng và hiện đại hóa.

    II. XU HƯỚNG TẠI KHU VỰC CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ VIỆT NAM

    Những thách thức kinh tế làm cho các kỹ năng trở nên quan trọng hơn. Để vượt qua những khó khăn này, các quốc gia trong khu vực sẽ yêu cầu mức độ thành thạo của lực lượng lao động cao hơn – và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp phải ưu tiên phát triển cả kỹ năng con người (Human skills) và kỹ thuật số (Digital skills)

    Các quốc gia chú trọng phát triển vốn con người được như Singapore, Indonesia, và Nhật Bản đã đầu tư rất nhiều vào nguồn nhân lực của họ và dẫn đầu khu vực về trình độ kỹ năng. Phát triển kỹ năng sẽ ngày càng trở nên quan trọng khi các kỹ năng, thay vì công việc, trở thành đơn vị tiền tệ mới trong nghề nghiệp.

    XU HƯỚNG TẠI KHU VỰC CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ VIỆT NAM
    XU HƯỚNG TẠI KHU VỰC CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ VIỆT NAM

    Việt Nam được đánh giá là thuộc nhóm cạnh tranh tại Châu Á Thái Bình Dương, cùng với các quốc gia Đông Nam Á khác như Myanmar, Lào, Malaysia, Campuchia, .. Xếp sau Singapore, Nhật Bản và Indonesia. 

    Tuy được xếp vào nhóm cạnh tranh nhưng Việt Nam ghi nhận giảm tới 17 hạng trên toàn cầu xét về mức độ thành thục kỹ năng. Trong đó, 60% – 70% người học Việt Nam có xu hướng học các kỹ năng kỹ thuật và Khoa học dữ liệu trên Coursera, trong khi đó con số này ở các kỹ năng kinh doanh là 42%

    III. CÁC KỸ NĂNG ĐƯỢC QUAN TÂM NHẤT

    Bên cạnh các kỹ năng về kỹ thuật số, Coursera chỉ ra rằng xu hướng phát triển kỹ năng hiện tại là kết hợp nhuần nhuyễn cả Kỹ năng con người (Human Skills)Kỹ năng kỹ thuật số (Digital Skills). 

    KỸ NĂNG KỸ THUẬT SỐ
    CÁC KỸ NĂNG ĐƯỢC QUAN TÂM NHẤT

    Cụ thể, ở các Kỹ năng kỹ thuật số (Digital Skills), 3 kỹ năng đang trở thành xu hướng chính là Phát triển sản phẩm (Product Design), Xử lý dữ liệu (Plot Data, bao gồm cả kỹ năng minh họa dữ liệu, kể chuyện bằng dữ liệu, …), Thiết kế trải nghiệm người dùng. Có thể thấy các kỹ năng kỹ thuật số được chia thành các mảng chính: 

    1. Quản lý (Sản phẩm/Nền tảng kỹ thuật/ Quy trình kinh doanh) 

    2. Bảo mật thông tin

    3. Thống kê phân tích dữ liệu 

    4. Hệ thống lưu trữ đám mây và chuỗi cung ứng

    Mặt khác, những Kỹ năng con người bị ảnh hưởng khá mạnh bởi các đại dịch COVID-19. Với những thay đổi như chuyển sang làm việc tại nhà và thay đổi sản phẩm để phù hợp trong bối cảnh đại dịch, kỹ năng Giao tiếp được đánh giá cao nhất, theo sau lần lượt là Quản trị thay đổi và Phát triển Chuyên nghiệp.

    KỸ NĂNG CON NGƯỜI
    Quản trị thay đổi và Phát triển Chuyên nghiệp

    NGUỒN THAM KHẢO

    1. Báo cáo Kỹ năng Toàn cầu 2021 của Coursera

    2. Xu hướng tuyển dụng mới: Khi Kỹ năng thay thế Bằng cấp

    3. Báo cáo Công việc của năm 2022 của Coursera