Thẻ: Hạnh Phúc Nội Tại

  • Esp 5: Khi người hướng nội xây dựng cộng đồng – Nguyễn Mai Khôi

    Esp 5: Khi người hướng nội xây dựng cộng đồng – Nguyễn Mai Khôi

    Anh Trọc Comics - Nguyễn Mai Khôi
    Anh Trọc Comics – Nguyễn Mai Khôi

    Những ai yêu thích thể loại tranh vẽ Comics có lẽ đã từng nghe qua cái tên Anh Trọc Comics. Nguyễn Mai Khôi là người hoạ sĩ đằng sau trang Facebook rất thú vị này, từ những bức vẽ nghệch ngoạc đầu tiên do sở thích cá nhân, sau nhiều năm nỗ lực không bỏ cuộc, hiện nay trang Anh Trọc Comics đã đạt con số hơn 170 ngàn người theo dõi, có một chỗ đứng nhất định trong lòng nhiều người yêu thích phong cách và thông điệp đằng sau những bức vẽ của Khôi về các chủ đề rất thường ngày của cuộc sống.

    Tự nhận mình là một người có tính cách hướng nội, nhưng Khôi lại không thích công việc chỉ ngồi một chỗ, yêu thích trải nghiệm và thích thử những cái mới, chúng đã dẫn Khôi đến với công việc vẽ Comics toàn thời gian mà Khôi yêu thích hiện nay, quan trọng hơn nữa là sống được với công việc yêu thích này của mình.

    Nếu bạn mong muốn nhận được những thông tin, chia sẻ hữu ích về phát triển bản thân hàng tuần từ Dear Our Community, nhấn vào đây.

    Xem nội dung phỏng vấn trên Youtube

  • Sự nghiệp tung hoành: Tìm điểm cân bằng giữa Lương và giá trị hạnh phúc trong công việc

    Sự nghiệp tung hoành: Tìm điểm cân bằng giữa Lương và giá trị hạnh phúc trong công việc

    Đến với buổi gặp mặt trên nền tảng OnMic, Dear Our Community đã được chị Lưu Thanh Huyền – nhà sáng lập hệ sinh thái hướng nghiệp VOCO và VOCF, Giám đốc Nhân sự mảng Phát triển nhân lực và tổ chức tại L’Oréal Việt Nam chia sẻ câu chuyện rất hay về ma trận hạnh phúc trong sự nghiệp.

    SỰ NGHIỆP TUNG HOÀNH?

    Cụ thể, chị Thanh Huyền cho rằng hạnh phúc trong sự nghiệp là một ma trận với hai trục tung và hoành. Trục tung là những giá trị vật chất có thể đong đếm được như lương, còn trục hoành là những cảm xúc mà công việc mang đến.

    Nếu trục tung có thể tăng đến vô cùng, thì trục hoành lại có tốc độ chậm hơn và có giới hạn. Đến một ngày bạn chợt nhận ra niềm vui mà thu nhập 5 tỷ mang lại cho bạn cũng không khác gì mấy so với khi bạn kiếm được 600 triệu một năm.

    sự nghiệp tung hoành
    Sự nghiệp tung hoành

    Vào năm 2010, các nhà nghiên cứu Đại học Princeton đưa ra kết luận rằng một người kiếm được 75.000 USD mỗi năm (khoảng hơn 1,7 tỷ đồng) là đã đạt được cảm giác hạnh phúc. Nghiên cứu này đã xem xét mối liên hệ giữa thu nhập của một người mỗi năm với trạng thái cảm xúc và đánh giá cuộc sống của họ.

    Kết quả cho thấy mức độ hạnh phúc về tình cảm chững lại ở mức 75.000 USD một năm, cho dù kiếm được số tiền cao hơn (chẳng hạn như 100.000 USD) cũng không tạo ra bất kỳ sự khác biệt nào về cảm giác hạnh phúc của một người. Nghiên cứu cũng chỉ ra điều tương tự rằng khi thu nhập giảm xuống dưới 75.000 USD, mức độ hạnh phúc của mọi người sẽ thấp hơn và độ buồn bã, căng thẳng cao hơn.

    Vậy nên chị Thanh Huyền chia sẻ rằng mình cần tìm một mức thu nhập tối thiểu để khiến mình cảm thấy hạnh phúc, con số này sẽ rất khác nhau ở từng cá nhân.

    LÀM SAO CẢI THIỆN?

    Tuy vậy, nếu chỉ đi làm vì lương, đến một lúc nào đó hạnh phúc do tiền đem lại không còn thắng nổi hạnh phúc khi được làm điều mình yêu thích. Chính vì thế chị đã chia sẻ thêm những điều khiến các giá trị tinh thần ở trục hoành tăng cao:

    1. Tìm được định nghĩa hạnh phúc của mình. Mọi công thức đều là vô nghĩa nếu bạn không biết điều gì làm mình hạnh phúc.

    2. Hạnh phúc trong công việc là những khoảnh khắc mình cảm thấy trọn vẹn (fulfillment). Đây là một loại cảm giác, có thể được ảnh hưởng bởi nhiều các hormones khác nhau. Các bạn có thể linh hoạt thay đổi cách làm việc của mình để tạo ra thật nhiều những hormone hạnh phúc này. Hoặc bạn có thể ngừng so sánh với hạnh phúc của người khác.

    định nghĩa hạnh phúc
    Định nghĩa hạnh phúc
    1. Đi làm vì lương không sai, nhưng song song với đó hãy tìm kiếm những điều khiến mình yêu thích.

    2. Khi chán việc, nếu có khả năng công ty hãy cho họ được luân chuyển phòng ban hoặc làm công việc.

    3. Hãy nhìn thêm những giá trị khác mà công việc mang lại ngoài lương như giá trị cho bản thân, cho phòng ban, công ty và cộng đồng.

    Cảm thấy hứng thú với nội dung này? Bạn có thể nghe lại toàn buổi chia sẻ của Lưu Thanh Huyền trên Spotify hoặc Apple Podcast của Dear Our Community. 

    #làmnghề #sựnghiệp #tunghoành

  • TỐT NGHIỆP NGÀNH TÀI CHÍNH CHỈ CÓ LÀM “BIG 4”?

    TỐT NGHIỆP NGÀNH TÀI CHÍNH CHỈ CÓ LÀM “BIG 4”?

    “Big 4” là cách gọi quen thuộc của 4 hãng kiểm toán lớn nhất thế giới về quy mô và doanh thu, bao gồm: PwC, Deloitte, Ernst and Young và KPMG. Làm việc tại Big 4 là mơ ước của rất nhiều bạn trẻ đang theo học ngành Tài chính, nhưng có phải đây là con đường duy nhất? 

    Theo thống kê của Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội năm 2021, có đến 70% sinh viên ra trường làm trái ngành. Các bạn trẻ ngày nay được tiếp cận với nhiều lớp học kỹ năng, nhiều anh chị trong nghề và các công nghệ tiên tiến. Điều đó làm người trẻ có thêm nhiều sự lựa chọn chứ không chỉ cố định trong ngành học của bản thân. 

    TÌNH TRẠNG LÀM TRÁI NGÀNH TĂNG CAO NÓI LÊN ĐIỀU GÌ? 

    1. Những môn học cấp PTTH chưa thật sự theo sát sự phát triển của Xã Hội

    Một sự thật đáng buồn là những môn học tại PTTH hiện tại đa số kiến thức còn hàn lâm và chưa thực sự bám sát thực tế. Điều này dẫn đến hệ lụy là các bạn học sinh khó có thể chọn lựa ngành học phù hợp tại Đại Học, bởi lẽ các bạn sẽ lựa chọn những môn mình học giỏi ở cấp PTTH để thi xét tuyển, mà không biết được tầm quan trọng và ứng dụng của chúng cho công việc sau này. 

    Nhận thức được điều này, Bộ Giáo dục & Đào tạo đã thực hiện một loạt cải cách giáo dục cho năm học 2022-2023 sắp tới: như việc ứng dụng các dự án học tập, học kiến thức địa phương, chia khối ngành để học, … 

    Việc áp dụng hình thức và nội dung học tập mới này cần nhiều thời gian để chứng minh tính hiệu quả, tuy nhiên đây cũng được xem là một sự phát triển về mặt đường lối giáo dục, nền tảng cho việc hướng nghiệp dễ dàng hơn. 

    Đổi mới giáo dục theo hướng sáng tạo và nhiều hoạt động tương tác 
    Đổi mới giáo dục theo hướng sáng tạo và nhiều hoạt động tương tác 

    2. Hướng nghiệp còn nhiều bất cập

    Tại Việt Nam, phụ huynh rất coi trọng việc học và các bạn học sinh được cha mẹ tạo mọi điều kiện học tập tốt nhất. Tuy nhiên điều này cũng khiến các bạn thiếu sự tiếp xúc với xã hội, không biết thực trạng việc làm tại Việt Nam, cũng như không có cơ hội Thử để làm điều mình thật sự thích.

    Tuy nhiên, có một điều đáng mừng là hiện nay các dự án xã hội do học sinh sinh viên thành lập đã gia tăng cả về mặt số lượng và chất lượng. Điều này khiến các bạn tăng tính chủ động về kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng quản lý dự án và cả nhân sự. Đây cũng là một tín hiệu tích cực cho thấy giới trẻ ngày nay đã mạnh dạn tạo lập dự án để giải quyết vấn đề mình trăn trở. 

    Thành lập Mắt Xanh
    Thành lập Mắt Xanh

    3. Áp lực tài chính, áp lực từ gia đình và cả bạn bè 

    Thật buồn phải không? Khi những người thân cận xung quanh ta lại có thể là những người khiến ta gặp nhiều áp lực nhất. Với nhiều bố mẹ truyền thống tại Á Đông, những nghề nghiệp như kỹ sư, bác sĩ, luật sư, … mới là những công việc được trọng vọng và có thu nhập cao. Hoặc các bạn trẻ cần làm việc tại các cơ quan nhà nước mới chính là sự ổn định nhất. 

    Thậm chí, Diễn viên nổi tiếng Dương Tử Quỳnh còn phát biểu rằng: “Các vị đã đưa mẹ tôi trở thành người phụ nữ hạnh phúc nhất thế giới ngày hôm nay”, khi được trao bằng tiến sĩ nghệ thuật danh dự.

    “Có lẽ tới bây giờ bà ấy mới nghĩ là tôi đã trưởng thành và có một công việc thực sự. Trước khi đến đây, tôi đã phải liên tục nói với bà ấy là ‘Mẹ ơi, con không phải là bác sĩ. Con không kê đơn thuốc được’.

    (Cô đã chơi chữ hai từ Doctor: bác sĩ và Doctor: Tiến sĩ) 
    (Cô đã chơi chữ hai từ Doctor: bác sĩ và Doctor: Tiến sĩ) 

    Nhưng giờ thì chắc bà ấy đã có thể đi khắp nơi để khoe mình có con là bác sĩ rồi”, Dương Tử Quỳnh hóm hỉnh nói.

    VẬY NẾU TỐT NGHIỆP NGÀNH TÀI CHÍNH, CÓ NHẤT QUYẾT PHẢI ĐI LÀM TẠI “BIG 4” KHÔNG? 

    Câu trả lời vừa là “Có”, vừa là “Không”. Câu trả lời là “Có” nếu bạn mong muốn được làm việc tại một môi trường chuyên nghiệp, có lộ trình thăng tiến rõ ràng, được làm quen với những đồng nghiệp tài giỏi. 

    Nhưng câu trả lời sẽ là “Không” nếu bạn mong muốn tìm một con đường khác phù hợp với năng khiếu, năng lực, nhu cầu của xã hội và đam mê của bạn thân. Bạn có thể tham khảo thêm bài viết 04 câu hỏi để chọn lựa nghề nghiệp để hiểu thêm chi tiết. 

    Bởi lẽ nếu không cân bằng được những yếu tố bên ngoài và giá trị bản thân, rất nhanh thôi bạn sẽ cảm thấy trống rỗng khi nhu cầu của bản thân không được đền đáp. Mà như chị Trang chia sẻ với chúng tôi rằng là: “Mang tiền về cho mẹ, vậy mang gì về cho mình?” 

    Chính vì thế, hãy cứ tin vào tiếng nói từ nội tâm sâu thẳm của chính mình, để tìm ra một sự nghiệp mang lại cho mình nhiều hạnh phúc, không nhất thiết là cứ tại “Big 4”! 

    #áplực #DươngTửQuỳnh #Nghềnghiệp #tàichính

  • [Respect VN X DEAR OUR COMMUNITY] 04 câu hỏi giúp chọn đúng nghề cho Gen Z “làm gì cũng được”

    [Respect VN X DEAR OUR COMMUNITY] 04 câu hỏi giúp chọn đúng nghề cho Gen Z “làm gì cũng được”

    Với kỹ năng đa dạng, các bạn trẻ ngày nay có nhiều lựa chọn nhưng cũng cần phải thử rất nhiều trước khi “chạm tay” đến công việc yêu thích. 4 câu hỏi sau đây được đề xuất bởi Respect Vietnam sẽ giúp các bạn tiết kiệm được thời gian và công sức khi lựa chọn nghề nghiệp. 

    Chị Đặng Thị Hải Hà – Nhà sáng lập RespectVN & Weatwork.co: Nền tảng Quản trị mục tiêu & Gắn kết Đội ngũ trên 1 trang giấy đã đưa ra 4 câu hỏi giúp nhiều bạn trẻ tìm ra được định hướng của mình: 

    @dearourcommunity Tìm việc PHÙ HỢP, làm sao BỚT KHÓ? #vieclam #nghe #career #kynangsong #dearourcommunity ♬ original sound – dearourcommunity

    1. Bạn thích làm gì nhất? 

    2. Bạn giỏi ở cái gì nhất?

    3. Bạn có tự do tài chính khi làm điều đó không? 

    4. Người khác cần bạn làm gì nhất? 

    4 quả bóng chính là 4 mục tiêu quan trọng nhất khi làm việc, bản thân chúng là những sự lựa chọn không thể tách rời, bởi lẽ khi đó chúng không còn ý nghĩa. Nếu chúng ta tìm được công việc trả lời được cả 4 câu hỏi này, đó là sự trưởng thành trong cả tư duy và hiểu chính mình. 

    Tham khảo quá nhiều lý thuyết khi chọn nghề dễ khiến chúng ta trở nên mệt mỏi. Thay vào đó, hãy đặt cho bản thân 4 câu hỏi này trong những hoàn cảnh và công việc cụ thể. Hãy bắt đầu từ khi bước chân đến địa điểm phỏng vấn, đến khi được nhận và ra quyết định chọn làm hay không làm công việc ấy. 

    Câu hỏi “Bạn thích làm gì nhất” sẽ giải quyết câu hỏi đam mê của bạn là gì; câu hỏi “Bạn giỏi ở cái gì nhất” giúp chúng ta tìm ra điểm mạnh của bản thân; câu hỏi “Bạn có tự do tài chính khi làm công việc đó không?” sẽ là sự đong đếm rằng liệu trong giai đoạn làm việc công việc có đem lại cho bạn sự tự do về mặt tài chính; mặt khác bạn tự tin nhận việc với mức lương được công ty trả cho mình. Câu hỏi cuối cùng “Người khác cần bạn làm gì” chính là những đồng nghiệp, lãnh đạo đang cần bạn làm gì. 

    NẾU MÌNH KHÔNG ĐẶT 04 CÂU HỎI THÌ SAO?  

    4 câu hỏi đó chính là cách để bạn liên tục nhìn nhận trong công việc của mình. Nếu công việc mình làm không đi trả lời được bất kỳ câu hỏi nào thì công sức bạn bỏ ra sẽ đổ sông đổ bể. 

    Chẳng hạn: nếu bạn miệt mài học tiếng Nhật nhưng tìm kiếm công việc bằng tiếng Anh, bạn chưa hiểu bản thân đủ và chọn lựa công việc đi theo đúng định hướng ban đầu, thì đó là một lựa chọn chưa phù hợp. 

    Người trẻ có nhiều năng lực và cơ hội, nhưng nếu chúng ta không chủ động lựa chọn, thì những công việc bạn làm sẽ khiến bạn đánh mất chi phí cơ hội (Chi phí cơ hội được định nghĩa như phần thu nhập mất đi do đã không lựa chọn một cơ hội đầu tư khác). Chẳng hạn, bạn học tiếng Nhật trong 6 tháng nhưng lựa chọn làm việc bằng tiếng Anh trong 3 năm sau đó, điều đó đồng nghĩa với việc bạn đã đánh mất 6 tháng tập trung học tiếng Nhật. Việc này có thể khiến bạn hối hận về sau. 

    Hãy nhớ rằng: “Start YOUNG, think BIG and stick with IT” (Bắt đầu sớm, nghĩ lớn và gắn bó với điều đó)

    Chính vì thế, hãy thành thật với bản thân và hỏi chính mình 04 câu hỏi trong quá trình làm việc.  

    Lưu ý: Đừng liệt kê danh sách câu trả lời dài lê thê, hãy chú ý đến từ “nhất”. Nếu không thể lựa chọn, bạn có thể chọn câu trả lời đầu tiên bật ra trong đầu. 

    Bạn có thể tham khảo bài viết Những kỹ năng thế giới mong đợi ở tôi trong thế kỷ mới để tìm hiểu về những kỹ năng đang được săn đuổi. 

    Tác giả đồng hành 

    Chị Đặng Thị Hải Hà 
    Chị Đặng Thị Hải Hà 

    Nhà sáng lập và Cố vấn Chiến lược của Respect Vietnam – Tổ chức chuyên môn về quản lí lao động tại Việt Nam. Tốt nghiệp Thạc sĩ về Phát triển quốc tế và Lao động trong Phát triển Bền vững tại Đại học Cornell, Hoa Kỳ, chị Hải Hà đã có hơn 15 năm theo đuổi sự nghiệp giúp doanh nghiệp phát triển bền vững và thúc đẩy công bằng trong lao động.

    —————————————————————————————–

    Đây là bài viết thuộc Series How To Định vị Nghề nghiệp Hạnh phúc được chắp bút bởi Dear Our Community và Respect Vietnam –  Tổ chức chuyên môn về quản lí lao động tại Việt Nam.

    #chọnnghề #serieshowto

  • Tiktoker – một nghề rất quyền

    Tiktoker – một nghề rất quyền

    Sau những lùm xùm thời gian gần đây, không thể phủ nhận Tiktoker đã trở thành một nghề rất quyền.

    Tiktoker là đại diện của quyền lực thứ 5?

    Song song với sự phát triển của xã hội, Báo chí từ lâu đã trở thành quyền lực thứ tư, bên cạnh Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp. Tuy nhiên, một thời đại mới đang dần mở ra với rất nhiều đổi thay mà con người phải thích nghi, kèm theo đó là sự mở rộng về khái niệm quyền lực xã hội. Báo chí không còn là quyền lực cuối cùng, mà giờ đây, xã hội đang dần hình dung rõ một kiểu quyền lực mới: quyền lực thứ 5 – mạng xã hội.

    Tại sao nó được gọi là một kiểu quyền lực? Có thể vì nó cũng có điểm chung với những quyền lực “tiền bối”: những thông tin nó đưa ra đều có sức ảnh hưởng lên đến xã hội nói chung và một vài cá nhân nói riêng. Thông tin đang được vận chuyển nhanh hơn bao giờ hết để đến được với người sử dụng mạng xã hội. Trong một khoảng thời gian không quá 1 giờ đồng hồ, dường như mọi câu chuyện đều được người dùng mạng xã hội biết đến, với rất nhiều góc nhìn.

    Tuy nhiên, nhìn về mặt tích cực, sự phát triển này cũng là một tín hiệu khả quan cho một số ngành công nghiệp. Điển hình nhất hiện nay chính là cơ hội nghề nghiệp rộng mở cho những người dùng trên mạng xã hội Tiktok – mạng xã hội giải trí video phát triển bật nhất hiện nay. Không ít cá nhân đã nhanh chóng trở thành tiktoker với khoản thu nhập ổn bằng công việc review sản phẩm trên tiktok.

    100+ TikTok Stats, Facts, and Insights You Must Know in 2022 - The Teal  Mango
    Số lượng người dùng liên tục tăng trưởng của Tiktok

    Nguồn: The Teal Mango

    Tiếng nói của những tiktoker dần trở nên có trọng lượng. Các KOC với số lượng người theo dõi của họ dần có khả năng “phán quyết” như những quan tòa. Mọi người dường như đang dần quên đi việc tiktoker review là dựa trên cảm nhận cá nhân của họ, chứ không phải một chuẩn mực nào tiêu chuẩn hơn. Không phủ nhận rằng một số tiktoker thật sự có chuyên môn về những sản phẩm mà họ trải nghiệm, nhưng đa phần các tiktoker hiện nay đều sẽ review dựa trên quan điểm của một người tiêu dùng – một quan điểm gần với đại chúng nhất.

    Khi quyền lực Tiktoker chưa được kiểm soát

    Nói đúng hơn, tính cho đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa thật sự có một cơ sở đủ mạnh để kiểm soát phát ngôn của các tiktoker, trừ khi những phát ngôn đó rơi vào những khái niệm liên quan đến pháp luật. Nhưng cũng chính vì thế, mà tình hình hiện tại có vẻ đang dần trở nên phức tạp hơn là câu chuyện review và đến trải nghiệm. Gần đây, The New York Post đã gây chú ý khi đưa tin rất nhiều nhà hàng ở thành phố New York bị các thực khách là người có ảnh hưởng trên Tiktok (influencer) đến với thái độ hách dịch và yêu cầu các bữa ăn miễn phí. Với hình thức “siêu hời” như thế này, một số người thậm chí còn mua cả người theo dõi để được hưởng những đặc quyền mà các reviewer thường có.

    Quay lại bối cảnh Việt Nam, câu chuyện giữa các Tiktoker và chủ doanh nghiệp chỉ mới bắt đầu và dường như khó có thể nhìn thấy hồi kết. Vừa qua là câu chuyện của nam Tiktoker N. gây nên tranh cãi khi cho rằng quán gỏi nổi tiếng của Ty Thy đã không hợp vệ sinh mà còn tranh cãi với thực khách.

    Chưa dừng lại ở đó, câu chuyện của quán chè Chang Hi gần đây cũng là một câu đố oái ăm trước những trăn trở về việc doanh nghiệp cần phải liên tục thay đổi khi các Tiktoker bắt đầu lên tiếng. Chưa có phân định đúng sai hoàn toàn nghiêng về bên nào, nhưng các câu chuyện trên đã, và đang trở thành một tiền đề không mấy dễ chịu cho các chủ doanh nghiệp, đặc biệt là những người kinh doanh thực phẩm. Một nhà hàng đã phản ứng gay gắt đến mức cấm hẳn các Tiktoker đến review quán của mình.

    Chủ quán ăn dán ảnh "cấm TikToker", quy định pháp luật thế nào?
    Phản ứng dễ hiểu của một bộ phận chủ doanh nghiệp

    Nguồn: Dân Việt

    Làm gì với các Tiktoker? 

    Trong bài báo trả lời Zing, Thạc sĩ Đinh Hồng Anh, công tác tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, cho rằng reviewer chỉ là cá nhân, tiếng nói của họ không đại diện cho tổ chức, đơn vị nào. Thế nên, cần phải đặt ra giới hạn cho những Tiktoker này.

    Đối với Tiktok, thì nền tảng này có lẽ cần có những chính sách riêng để bảo đảm sự phát triển bền vững của chính mình. Đối với người tiêu dùng, bộ phận tạo nên quyền lực cho các Tiktoker, cũng nên giữ cho bản thân một cái nhìn sáng suốt đối với các vấn đề liên quan đến công việc mua bán – miếng cơm manh áo của những người mua bán. Cuối cùng, các chủ doanh nghiệp cũng tự sử dụng được quyền lực của chính mình, bằng cách nhờ các cơ quan có thẩm quyền can thiệp khi sản phẩm của doanh nghiệp mình bị đưa tin đồn không đúng lên mạng xã hội.

    Nếu chúng ta đều là những người tỉnh táo, văn minh, DOC tin rằng thái độ đó sẽ thanh lọc được những rắc rối không đáng có trong câu chuyện giữa người bán hàng, người tiêu dùng, và một nghề nghiệp đứng ở giữa họ.

    Tham khảo
    1. Nhiều TikToker đang ảo tưởng sức mạnh quyền lực mạng

    2. Các TikToker ‘ảo tưởng sức mạnh’ nên bị tẩy chay

    #review #ngườitiêudùng #quyềnlực #mạngxãhội #drama #Tiktok

  • Hay mình thử tích cực part-time thôi?

    Hay mình thử tích cực part-time thôi?

    Tích cực quan trọng với tinh thần của chúng ta” – các chuyên gia nói thế, người khác nói thế, chúng ta nói thế, ai cũng nói thế, nhưng không ai dặn bạn rằng hãy tích cực part-time thôi.

    Tích cực chỉ cần đủ

    Các nhà tâm lý học cho rằng, tích cực – một trạng thái tràn trề hy vọng cho tương lai – là một trạng thái rất cần thiết cho cả sức khỏe tinh thần và sức khỏe thể chất của mọi người. Tích cực có thể giúp một con người có khả năng phục hồi tốt hơn, quản lý cơn đau hiệu quả hơn, và thậm chí gia tăng sức mạnh của các cơ chế đề kháng để kéo dài tuổi thọ. Ngoài ra, những người tích cực cũng có xu hướng sở hữu những mối quan hệ lành mạnh, vui vẻ hơn.

    Một tin tốt nữa là, dù không thể đo về số lượng, nhưng tích cực có thể được rèn luyện để gia tăng trong tinh thần của mỗi người. Giáo sư tâm lý ở đại học York (Toronto), Myriam Mongrain, chỉ ra rằng dù sự tích cực được tạo nên từ một phần di truyền gen, nhưng nó cũng có thể bị tác động bởi cách chúng ta được nuôi dạy. Chúng ta có thể luyện tập tích cực, với mục tiêu là chỉ tích cực part-time thôi. Tích cực toàn thời gian nghe rất lý tưởng, nhưng không thực tế. Hơn nữa, cảm xúc tiêu cực cũng có vai trò riêng của nó. Sự tác động của tiêu cực hỗ trợ con người nhận định đúng, sai và tạo động lực để thay đổi.

    Đó chỉ là một vài lời nhắc nhở để bạn hiểu rằng sự tích cực không hoàn hảo đến mức bạn phải giữ lấy nó trong mọi thời điểm trong cuộc đời. Không có gì đáng thất vọng khi đôi khi chúng ta tiêu cực vì đấy là một tín hiệu tốt, chứng minh bộ máy phản ứng của bạn vẫn còn hoạt động tốt để duy trì một thể trạng sống linh hoạt.

    Còn bây giờ, hãy cùng tìm hiểu những cách để gia tăng sự tích cực.

    Tận hưởng những điều tích cực

    Dana McMakin, phó giáo sư tâm lý học tại Đại học Quốc tế Florida, gợi ý rằng mỗi người có thể tự tạo ra một kênh TV trong đầu, chuyên phát sóng lặp đi lặp lại những kí ức tốt đẹp. Mỗi khi có điều gì đó không ổn, hãy xem lại kênh TV đó, chọn một kí ức thoải mái rồi nhớ lại cảm giác hạnh phúc khi tận hưởng những điều đó. Chúng sẽ nhắc nhở bạn rằng, hóa ra cuộc sống không tệ đến thế, hóa ra bạn cũng từng có những khoản thời gian hạnh phúc đến thế.

    Tự tưởng cho mình những khoảnh khắc hạnh phúc cá nhân
    Tự tưởng cho mình những khoảnh khắc hạnh phúc cá nhân

    Nguồn: Being Anna

    Luyện tập hình thức này hàng ngày có thể hỗ trợ bạn đi vào giấc ngủ dễ dàng hơn, vì chúng giúp tinh thần của bạn thư thả hơn, thậm chí sẽ là nguôi ngoai nếu bạn đang ở trong một tình huống không được dễ chịu cho lắm.

    Tích cực đạt được những thành tựu nhỏ

    Hoạt động nhiều sẽ mở ra cơ hội cho bạn tích cực hơn. Khi rơi vào trạng thái đờ đẫn, hay trì trệ, bạn hãy thử làm một việc gì đó mà bạn có thể hoàn thành tốt. Để làm được như thế thì bạn nên đặt một mục tiêu nhỏ thôi, bắt đầu từ việc dọn dẹp trong phòng chẳng hạn. Bạn có thể tự lên kế hoạch chi tiết, dọn dẹp những chỗ nào, bắt đầu từ đâu, có cần trang trí thêm không…

    Giữ bản thân trong trạng thái bận rộn cho một thành tựu sắp tới
    Giữ bản thân trong trạng thái bận rộn cho một thành tựu sắp tới

    Nguồn: apartmenttherapy.com

    Quá trình này không chỉ đem lại cảm giác đạt được thành tựu khi hoàn thành mà còn hỗ trợ bạn phân tán suy nghĩ tiêu cực, giảm bớt đi cái năng lượng trì trệ lúc nãy. Tiến sĩ Mongrain nói: “Lạc quan không chỉ là nhìn thấy một tương lai tươi sáng, mà là biết phải làm gì để đạt được điều đó.”

    Tự viết thư cho bản thân

    Chọn một thời điểm trong tương lai, sau đó chọn tiếp một vấn đề mà bạn đang lo lắng. Thử tưởng tượng bản thân đang ở trong thời điểm đó, mọi thứ giải quyết ổn thỏa rồi và bạn đang tận hưởng thành quả tốt đẹp. Và giờ, bạn ở tương lai, viết một lá thư về câu chuyện đó cho bạn ở trong quá khứ.

    Tự viết những lời tâm tình cho bản thân
    Tự viết những lời tâm tình cho bản thân

    Nguồn: myblankpaper.com

    Lá thư nên có nội dung giải thích chi tiết làm thế nào bạn đã vượt qua được mọi thứ, càng chi tiết càng tốt. Lúc này, bạn đang để cho não của bản thân hoạt động với 2 nhiệm vụ: vừa an ủi, vừa giải quyết luôn vấn đề hiện tại theo một cách nhẹ nhàng hơn.

    Trên đây là những cách để có thể giữ bạn trong một trạng thái tích cực part-time lý tưởng. DOC xin chúc bạn có những ngày thật tích cực và tràn đầy năng lượng.

    #trạngthái #sứckhỏetinhthần #tiêucực #hạnhphúc #tíchcực #vuivẻ

  • ESP 4: Mang tiền về cho mẹ vậy mang gì về cho mình – Nguyễn Quỳnh Trang

    ESP 4: Mang tiền về cho mẹ vậy mang gì về cho mình – Nguyễn Quỳnh Trang

    Nguyễn Quỳnh Trang - Giám đốc điều hành Teach For Vietnam
    Nguyễn Quỳnh Trang – Giám đốc điều hành Teach For Vietnam

    Nguyễn Quỳnh Trang, hiện là Giám đốc điều hành của Teach For Vietnam, một tổ chức phi lợi nhuận với sứ mệnh mang giáo dục chất lượng đến những trẻ em vùng sâu vùng xa.

    Dù học ngành ngân hàng nhưng chưa làm ở ngân hàng một ngày nào. Từng đi làm việc trong lĩnh vực tài chính và chứng khoán, những công việc dễ dàng giúp Trang kiếm được vị trí và thu nhập rất tốt mà ai cũng mong muốn, nhưng những thắc mắc xoay quanh giá trị công việc đã dẫn Trang đến với lĩnh vực phi lợi nhuận và tác động xã hội.

    Nếu bạn mong muốn nhận được những thông tin, chia sẻ hữu ích về phát triển bản thân hàng tuần từ Dear Our Community, nhấn vào đây.

    Xem nội dung phỏng vấn trên Youtube

  • Chiếm dụng văn hoá ở Việt Nam (P2) – Hà Yến Chi

    Chiếm dụng văn hoá ở Việt Nam (P2) – Hà Yến Chi

    Áp dụng trong bối cảnh Việt Nam

    Do khái niệm chiếm dụng văn hóa có nguồn gốc từ bối cảnh phương Tây với lịch sử bạo lực thực dân khá rõ ràng, đa phần các ví dụ thường xoay quanh hiện tượng người da trắng Âu Mỹ chiếm dụng các thực hành văn hóa của các nhóm sắc tộc khác yếu thế hơn (như người da màu, người nhập cư, hay người bản địa) hoặc của các quốc gia khác. Trong các trường hợp này, trục tương quan chính nằm ở văn hóa quốc gia hoặc các nhóm sắc tộc (racial). Các nhóm bị vay mượn sử dụng khái niệm “chiếm dụng văn hoá” để phản đối việc người da trắng sử dụng thực hành văn hoá của họ để tăng giá trị bản thân, trong khi chính những người thuộc cộng đồng chủ thể thì lại bị đàn áp hoặc kỳ thị vì thực hành văn hoá của mình. Các ví dụ điển hình có thể kể đến như kiểu tóc tết (braids) hay bện (dreadlocks) của người châu Phi và gốc Phi, hay thực hành xông khói trừ tà (smudging) của người Mỹ bản địa.

    Ca sĩ Justin Bieber bị chỉ trích vì sử dụng kiểu tóc dreadlocks của người châu Phi và gốc Phi (Nguồn ảnh: OK! Magazine)

    Tuy nhiên, khái niệm này trở nên phức tạp hơn khi ứng dụng vào bối cảnh nội địa quốc gia cùng sắc tộc với lịch sử nội thực dân (internal colonialism – Hechter 1975) ít hiển lộ hơn. Khung lý thuyết chiếm dụng văn hóa thường mặc định ranh giới giữa các nhóm văn hóa và tộc người là rõ ràng và bất biến. Trên thực tế, đường biên văn hóa không hẳn luôn cố định, và việc phân định căn tính (identity) bao gồm nhiều khía cạnh ngoài tộc người. Trong bối cảnh Việt Nam, quá trình xây dựng nhà nước hậu thuộc địa dựa vào việc hợp nhất các tộc người (mà trước đó được kiến tạo bởi dân tộc học thực dân Pháp – Salemink 1990, 1999; Bayly 2000) vào chung một quốc gia dân tộc thống nhất. Vì thế, trong diễn ngôn phổ biến, các tộc người thiểu số được hình dung là 1 phần hiển nhiên và tất yếu của quốc gia Việt Nam. Đồng thời, sự “khác lạ” của các nền văn hóa thiểu số so với văn hóa Kinh cũng tạo ra sự tò mò, thích thú từ nhóm đa số. Tâm lý định vị văn hóa kép này dẫn đến kiến tạo các tộc người thiểu số là “internal Other” (tạm dịch: “người lạ nội bộ”) vừa là một phần gần gũi của cái “Tôi” vừa mang sự mới lạ của cái “Khác.” Nó lý giải tại sao nhóm chiếm ưu thế là người Kinh có xu hướng coi văn hóa các tộc người thiểu số là tài nguyên chung trong cùng bản sắc Việt Nam để khai thác, với niềm tin rằng mình đang bảo tồn văn hóa của chính mình, ở đây là văn hóa quốc gia – dân tộc Việt Nam. Do đó, các thảo luận về chiếm dụng văn hóa ở Việt Nam chủ yếu xoay quanh người Kinh và các nhóm thiểu số trong phạm vi quốc gia, chứ không phải với các tộc người thiểu số ở các quốc gia khác, cho dù các nhóm này có tương đồng văn hoá và liên hệ về lịch sử di cư với nhiều tộc người thiểu số ở Việt Nam. Diễn ngôn về chủ nghĩa dân tộc đa văn hóa (multicultural nationalism) này có thể dẫn đến niềm tin vô thức rằng người Kinh có “quyền” và “trách nhiệm” giúp đỡ định hướng cho các cộng đồng thiểu số bảo tồn văn hóa của chính mình sao cho “đúng cách,” tức là theo tiêu chuẩn đa số.

    Sự va chạm của các nền văn hóa (Nguồn: Equatex)

    Trong một phạm vi nhỏ hơn, việc xác định danh tính địa phương đôi khi vượt lên trên danh tính tộc người cụ thể, dẫn đến việc gộp chung văn hóa các tộc người khác nhau trong một danh tính địa phương “tưởng tượng” (cộng đồng tưởng tượng/imagined communities – Anderson 1983). Ở Việt Nam, một số danh tính địa – dân tộc (ethnoregional) chung thông dụng nhất là Tây Bắc (với các nhóm nổi trội như Thái, Mông, Dao,…) và Tây Nguyên (với các nhóm nổi trội như Êđê, Jarai, Kơho,…). Điều này lý giải tại sao các yếu tố văn hóa của các tộc người thiểu số thường được nhắc đến dưới danh tính địa phương chung thay vì tộc danh cụ thể. Ví dụ, Biti’s gọi thổ cẩm mình sử dụng là thổ cẩm “Tây Nguyên” (chưa nói đến việc đây là nhận dạng sai thổ cẩm Chăm), hay một số nhà thiết kế thời trang gọi chung thổ cẩm “Tây Bắc”, ngay cả khi các loại vải này chưa chắc đã đến từ vùng Tây Bắc, mà có thể là Đông Bắc. Nhà âm nhạc dân tộc học Lonán Ó Briain (2014) cũng miêu tả hiện tượng này qua việc các yếu tố văn hóa của nhiều nhóm dân tộc khác nhau như Tày, Mông, Dao,… được gộp chung trong các buổi biểu diễn quảng bá văn hóa địa phương ở Sapa, với các diễn viên đôi khi “đóng vai” các tộc người khác bằng cách mặc trang phục và sử dụng nhạc cụ của các nhóm này (ví dụ một số diễn viên người Tày hoặc Dao mặc trang phục người Mông và sử dụng khèn người Mông để biểu diễn). Khi danh tính địa phương bao trùm danh tính tộc người, người Kinh có thể tự liên hệ mình với các tộc người thiểu số sống cùng địa bàn, kể cả khi họ không cùng chung một văn hóa. Ví dụ, một tác giả người Kinh sống ở Hà Giang viết tiểu thuyết về người Mông ở Hà Giang có thể cho rằng những trải nghiệm và quan sát từ việc sinh sống gần cộng đồng này cho phép mình miêu tả chân thực về cuộc sống của người Mông ở đây.

    Chia sẻ quyền lực

    a. Kinh tế

    Ở VN hiện tại, phần lớn các thảo luận về chiếm dụng văn hóa tập trung vào một số khía cạnh chính là xúc phạm văn hóa và sai lệch thông tin (về nguồn gốc, nội dung hay bối cảnh thực hành). Tuy nhiên, một khía cạnh cốt yếu khác là chia sẻ lợi ích và quyền lực thì ít đc đề cập đến hơn. Một thực hành có thể giảm bớt rủi ro chiếm dụng khi nó hướng đến việc cân bằng lại cán cân quyền lực sẵn có. Cách chia sẻ lợi ích dễ thấy nhất là về mặt kinh tế, khi lợi nhuận từ các sản phẩm tiếp dụng văn hóa được chia sẻ công bằng và phù hợp với đóng góp của các bên (không nhất thiết là 50/50). Tuy vậy, các thông tin cụ thể về khía cạnh này ít khi được nghệ sĩ hay thương hiệu tiết lộ. Chưa kể, công bằng thương mại khó định lượng cố định, mà thường được quyết định thông qua đàm phán tự do giữa các bên. Do đó, việc chia sẻ lợi nhuận công bằng không chỉ là trách nhiệm của nghệ sĩ hay thương hiệu, mà còn phụ thuộc vào cách các cộng đồng thiểu số định vị giá trị và chất lượng của sản phẩm mình làm ra.

    b. Hiện diện truyền thông

    Ngoài quyền lợi kinh tế, chia sẻ quyền hiện diện truyền thông bằng cách trích nguồn văn hóa (accreditation) và tạo không gian cho cộng đồng chủ động thể hiện hình ảnh theo cách họ mong muốn cũng rất quan trọng. Có những tổ chức xã hội hay thương hiệu tuyên bố là trao quyền cho phụ nữ thiểu số nhưng trên các kênh truyền thông đa phần là thông tin về nội bộ tổ chức, nhà thiết kế hay người nổi tiếng, chứ hiếm thấy hình ảnh cộng đồng. Sự hiện diện truyền thông của các cộng đồng chủ thể là cần thiết, nhưng quan trọng hơn cả là cách họ hiện diện như thế nào. Việc đưa hình ảnh người dân tộc thiểu số vào truyền thông quảng cáo nếu không cẩn trọng rất dễ rơi vào tình trạng “sân khấu hóa” (performatize) các cộng đồng thiểu số, biến họ thành một hình thức trình diễn bề nổi khi nội dung và cách thức họ xuất hiện hoàn toàn đc quyết định bởi thương hiệu hay nghệ sĩ người Kinh. Trong trường hợp này, người dân tộc thiểu số được nhắc đến hay đưa ra về mặt hình ảnh để khán giả nhìn ngắm, nhưng không được cất lên tiếng nói thực của mình. Ví dụ, một số nghệ sĩ hay thương hiệu đưa nghệ nhân thiểu số tham gia các sự kiện truyền thông và sắp đặt họ vào các không gian kiểu khuôn mẫu theo hình dung phổ biến về dân tộc thiểu số (gắn với rừng núi, nông thôn, cây cỏ rơm rạ,…) nhưng khác với không gian và thực hành văn hóa của họ trên thực tế. Quyền tự chủ về hình ảnh cũng đảm bảo rằng họ là người đưa ra quyết định có hiện diện hay không. Nếu họ không muốn xuất hiện nhưng lại bị đưa ra trước công chúng thì đó lại là một thực hành mang tính bạo lực.

    Có một số lập luận cho rằng việc các thương hiệu hay nghệ sĩ tìm cảm hứng sáng tạo từ các tộc người thiểu số sẽ góp phần quảng bá những văn hoá này đến với công chúng. Trong nền kinh tế – chính trị văn hoá hiện nay, việc “quảng bá” các thực hành văn hoá thường được mặc định là một việc tốt, vì như vậy chúng có thể dễ dàng được thương mại hoá và tiêu thụ. Tuy nhiên, có những khía cạnh hay thực hành văn hoá chỉ nằm trong phạm vi cộng đồng chủ thể và việc trưng bày chúng ra ngoài khiến cho chúng mất đi ý nghĩa gốc. Ví dụ, tháp Chăm chỉ được mở khi có lễ tục quan trọng, nên việc buộc người Chăm mở tháp khi không có lễ là một sự xâm phạm về luật tục văn hóa và tính riêng tư của cộng đồng Chăm. Hoặc như trường hợp nhiếp ảnh gia người Mỹ Michael Heller của tòa báo Santa Fe New Mexican chụp ảnh một điệu nhảy nghi lễ của người bản địa Pueblo để đăng báo, trong khi luật tục của người Pueblo không cho phép chụp ảnh nghi lễ này vì cho rằng nó ảnh hưởng đến hiệu quả tâm linh. Họ sau đó đã khởi kiện Michael Heller và tòa báo với lý do vi phạm luật cấm chụp ảnh và xâm phạm tính riêng tư cộng đồng (Scaffidi 2006, 103). Có thể thấy, ngoài tính minh bạch (transparency), tính bí mật (secrecy) là một yếu tố quan trọng để một cộng đồng duy trì sự ổn định danh tính văn hoá của mình. Theo triết gia Jacques Derrida (2001), tính bí mật cũng mang trong nó công lý, và một xã hội yêu cầu tất cả mọi thứ phải minh bạch mà không cho phép bí mật tồn tại thì cũng trở thành độc tài. Diễn ngôn quảng bá văn hóa cũng cho rằng người dân tộc thiểu số “chân chất thật thà” (Noble Savage) thường dễ dàng đồng thuận và đón nhận bất kỳ sự chú trọng nào từ xã hội đa số. Không thể phủ nhận rằng việc nội tâm hóa các diễn ngôn kỳ thị văn hóa có thể dẫn đến tâm lý này, nhưng cũng có rất nhiều cộng đồng có sự nhạy bén với các hành vi “tôn vinh” tái lập định chế quyền lực giữa họ và nhóm đa số.

    c. Sáng tạo

    Ngoài 2 khía cạnh kinh tế và truyền thông, chia sẻ quyền lực sáng tạo cũng có thể giảm thiểu đáng kể rủi ro chiếm dụng. Trong các thực hành sáng tạo xuyên văn hoá, nhà thiết kế và nghệ sĩ thường nắm độc quyền sáng tạo, trong khi cộng đồng thiểu số chỉ đóng vai trò cung cấp chất liệu hoặc cảm hứng sáng tác. Tương tác một chiều này coi thực hành văn hóa thiểu số như 1 nguồn tài nguyên thụ động tách biệt khỏi cộng đồng con người tạo dựng ra nó, để nghệ sĩ đến lấy và nhào nặn thành 1 sản phẩm phù hợp hơn với thẩm mỹ “tiêu chuẩn.” Việc này tái thiết lập hệ thống thứ bậc trong hệ chính trị thẩm mỹ (politics of aesthetics – Rancière 2000) và củng cố niềm tin rằng thẩm mỹ văn hóa gốc của các nhóm thiểu số cần được nghệ sĩ hay nhà thiết kế đến từ ngoài cộng đồng biến tấu để “nâng giá trị.” Tuy cách làm này mang lại những lợi ích thực tế trong thị trường kinh tế văn hóa và sáng tạo, nó chưa thực sự mở rộng phạm vi cảm thụ thẩm mỹ của công chúng đa số để tiếp cận được thẩm mỹ gốc của nhóm thiểu số.

    Tuy nhiên, ngày càng có nhiều nghệ sĩ và nhà thiết kế nhận ra sức mạnh sáng tạo đến từ việc đồng sáng tác cùng cộng đồng nghệ nhân, như nhạc sĩ Trí Minh hay nhà thiết kế Vũ Thảo. Chia sẻ của các nghệ sĩ này cho thấy sự chuyển dịch từ cách làm việc truyền thống là nghệ sĩ yêu cầu nghệ nhân làm theo ý mình sang việc kết hợp tiếng nói sáng tạo của nghệ nhân để tạo ra 1 sản phẩm mang tư duy thẩm mỹ của cả 2 bên. Các cộng đồng thiểu số có thể có những góc nhìn khác với nhà thiết kế (NTK) hay nghệ sĩ người Kinh, và chính sự khác biệt này có thể tăng thêm sự mới mẻ đột phá cho sản phẩm thay vì hạn chế nó. Như nhà thiết kế Vũ Thảo chia sẻ, tính sáng tạo đến từ chính những tương tác đa chiều giữa nghệ sĩ/NTK và nghệ nhân/cộng đồng. Đồng sáng tác là một quá trình đàm phán và thích ứng liên tục và xuyên suốt, chứ không chỉ dừng ở sự cho phép của cộng đồng ở điểm đầu và cuối của quá trình sáng tạo. Nó có thể giúp cân bằng lại tương quan quyền lực sẵn có bằng cách tạo ra không gian để cộng đồng thiểu số tham gia trực tiếp vào quá trình sáng tác. Như vậy, trong sản phẩm cuối cùng, thứ mà công chúng tiếp cận được không chỉ là các thực hành văn hóa mà còn là cả tiếng nói và tư duy thẩm mỹ của các cộng đồng chủ thể. Tuy nhiên, nó cũng đòi hỏi sự cởi mở và niềm tin đến từ cả 2 bên, và nghệ sĩ thường phải đầu tư nhiều thời gian và công sức hơn so với sáng tác cá nhân. Ngoài ra, mặc dù đồng sáng tạo có thể giảm bớt đáng kể rủi ro chiếm dụng văn hóa, nhưng không có nghĩa là nó xóa bỏ hoàn toàn định chế quyền lực sẵn có. Tùy theo cách thức tương tác và mức độ chia sẻ, nó vẫn có thể tái lập định chế quyền lực ở một số khía cạnh nhất định.

    Chị Vũ Thảo đang thử nghiệm thuốc nhuộm tự nhiên trong studio (Nguồn: Julie Vola)

    Về trường hợp Lê Cát Trọng Lý

    Quay lại với vụ việc gần đây nhất liên quan đến chiếm dụng văn hoá là dự án Các khúc ca Việt cổ của Lê Cát Trọng Lý, cá nhân tôi không ngạc nhiên khi các lùm xùm nổ ra sau phỏng vấn của Lý với Vietcetera. Tuy là fan của Lý đã lâu, lần đầu nhìn thấy thông báo dự án trên trang Facebook tôi đã ít nhiều có dự cảm rằng dự án này có thể sẽ có vấn đề nếu không khéo léo. Dự cảm này phần nào dấy lên sau lần tôi đi dự concert của Lý và nhận ra Lý mặc một chiếc áo của người Dao đỏ ở Sapa. Lý nói về chiếc áo với một niềm thích thú hồn nhiên, bằng những từ ngữ như “hay” và “vui”, nhưng tuyệt nhiên không nhắc gì đến gốc gác văn hoá của nó. Tôi bỗng nhiên thấy mình có chút hẫng. Lý đã dành niềm yêu mến cho chiếc áo đó để mang lên sàn diễn, cũng đã dành thời gian để nói về nó với khán giả, thì giá như Lý chỉ cần đi thêm một bước là nhắc đến nguồn gốc của nó thì tôi nghĩ là sẽ trọn vẹn hơn. Khi xem các clip nhỏ Lý quay về quá trình thu thập và phối lại dân ca người Mông (trước bài phỏng vấn với Vietcetera), tôi cũng cảm nhận được ít nhiều sự “hồn nhiên” này của Lý.

    Tôi nghĩ rằng bản thân mong muốn tôn vinh dân ca của các tộc người thiểu số của Lý là rất đáng quý, nhất là khi cô tìm đến làm việc trực tiếp với các cộng đồng và cố gắng đưa sự hiện diện của họ vào buổi biểu diễn. Tuy nhiên, cách làm của Lý có đôi phần ngây thơ. Như việc đưa các nghệ nhân thiểu số lên sân khấu có thể xem là một bước đầu nỗ lực, nhưng chưa thật sự thấu đáo trong trong một số trường hợp. Như chị Nguyễn Thị Bích Tâm, cố vấn chương trình dân tộc thiểu số của Viện iSEE, chia sẻ trong buổi tọa đàm của Mạng lưới Tiên phong, sân khấu là một không gian mang nhiều quyền lực vô hình và hữu hình. Việc đưa các nghệ nhân thiểu số lên sân khấu một cách hình thức (tokenism) có thể gây áp lực tâm lý, dễ khiến họ trở thành đối tượng cho những tiếng cười và cái nhìn hiếu kỳ về sự bối rối “ngô nghê” của mình. Thay vì là những nhân vật quan trọng trong buổi diễn, họ ít nhiều trở thành đạo cụ (prop) cho sự sáng tạo cá nhân của nghệ sĩ.

    Là một nghệ sĩ nổi tiếng, Lý đã có thể hỗ trợ đưa tiếng nói của các cộng đồng thiểu số đến gần với công chúng hơn bằng cách hợp tác với các tổ chức hay hội nhóm sẵn có trong cộng đồng. Khi đọc thông báo về dự án, tôi đã rất mong Lý sẽ hợp tác với Mạng lưới Tiên Phong hay Action for Hmong Development (AHD), những tổ chức hoạt động văn hoá xã hội do chính người trong cộng đồng làm chủ và có tâm huyết sâu sắc với việc bảo tồn văn hóa của mình (nhất là AHD đã từng làm dự án về dân ca người Mông). Các tương tác xuyên văn hóa có thể mang đến cơ hội rất tốt để các nhóm thiểu số, vốn không nhiều sự hiện diện có chủ đích trong xã hội, có thể đưa ra tiếng nói và góc nhìn sáng tạo của mình đến với công chúng. Tôi hiểu rằng cái tôi cá nhân trong sáng tạo nghệ thuật là việc bình thường, và cũng không cho rằng các nghệ sĩ phải đóng vai nhà hoạt động xã hội. Nhưng ngay cả về khía cạnh sáng tạo, nếu Lý đi sâu thêm một bước để tiếp nhận những góc nhìn nghệ thuật từ chính các cộng đồng thay vì diễn dịch lại dân ca của họ thành một sản phẩm hay theo kiểu “người Kinh,” thì biết đâu chúng ta đã được hưởng những tác phẩm đồng sáng tạo mới mẻ và thú vị hơn nữa. Lý bắt đầu dự án với một ước muốn rất đẹp và cũng đã có những bước đầu đi đúng hướng, nhưng tôi có chút tiếc nuối khi cô đã bỏ lỡ cơ hội để đi xa hơn nữa.

    Tuy nhiên, tôi cũng cho rằng một số ý kiến lên án việc Lý chiếm dụng văn hoá cũng có thể đi xa hơn một bước. Không khó để nhận ra tâm thế “hồn nhiên” của Lý là rất phổ biến chứ không phải chỉ của một mình Lý, nhưng tại sao nó phổ biến thì các ý kiến phê phán này chưa chỉ ra sâu hơn. Do đó, thay vì phê phán cá nhân Lý, vụ việc này có thể là một cơ hội tốt để lật lại các vấn đề mang tính hệ thống trong bối cảnh cụ thể ở Việt Nam khi áp dụng lý thuyết hậu thuộc địa và nội thuộc địa. Từ đâu mà các tộc người thiểu số ở Việt Nam trở thành danh tính “người Việt”, như trong tên gọi dự án của Lý? Hệ thống diễn ngôn thống soái ở Việt Nam ảnh hưởng như thế nào đến cách các nghệ sĩ tiếp cận và tương tác với các cộng đồng thiểu số trong thực hành sáng tạo xuyên văn hoá? Có những điểm gì giống và khác khi nhìn về các quốc gia dân tộc đa văn hoá trong khu vực châu Á và Đông Nam Á? Đặt ra những câu hỏi này không phải để biện minh cho Lý, mà để nhìn rộng ra và thấy rằng Lý cũng đã có nhiều sự cố gắng đúng hướng, và sự “hồn nhiên” của cô không phải tự nhiên mà có, mà sinh ra từ các cấu trúc xã hội lớn hơn.

    Hạn chế 

    Có thể thấy chiếm dụng văn hóa là một khái niệm hữu ích để nhìn ra các tương quan quyền lực ẩn dưới những hành vi tưởng chừng vô hại. Tuy nhiên nó cũng dễ dẫn đến một cách nhìn tương đối hạn chế về sáng tạo xuyên văn hóa theo tư duy lưỡng nguyên giữa chiếm dụng (appropriation) và tôn vinh (appreciation). Trên thực tế, có thể hình dung các tương tác sáng tạo xuyên văn hóa trong một phổ liên tục (spectrum), với đa phần các thực hành nằm trong vùng xám giữa 2 điểm cực này. Rất nhiều thực hành mang cả các yếu tố chiếm dụng và tôn vinh cùng lúc. Ví dụ, nhiều trường hợp xuất phát từ mong muốn tôn vinh văn hóa thiểu số, nhưng do thiếu kiến thức và sự nhạy cảm văn hóa nên không đặt quyền tự chủ và tự quyết của cộng đồng làm trọng tâm, hoặc mặc định rằng họ có cùng mong muốn và tư duy về bảo tồn. Theo Susan Scaffidi (2006, 8-9), việc tôn vinh các yếu tố văn hóa của các nhóm người “khác” không phải lúc nào cũng đi liền với việc đề cao sự hiện diện và tiếng nói thật sự của chính những người “khác” này. Trên thực tế, đây là một hiện tượng phổ biến trong quá trình hòa nhập toàn cầu và thương mại hóa văn hóa. Nhìn các tương tác đa văn hóa trong một phổ liền mạch thay vì phân loại lưỡng cực cho phép chúng ta xem xét kỹ hơn các sắc thái khác nhau trong sáng tạo xuyên văn hóa tuỳ theo bối cảnh cụ thể, từ đó đưa ra các đánh giá tinh tế hơn thay vì kết luận tuyệt đối.

    Ngoài ra, các vụ việc về chiếm dụng văn hóa hiện nay thường chỉ hiện lên trong truyền thông về sản phẩm cuối cùng. Thế nhưng, để có thể đánh giá được xác đáng cần đến các thông tin cụ thể về cả quá trình thực hành sáng tạo. Có những thương hiệu hay nghệ sĩ đưa ra hình ảnh rất tốt, nhưng thực hành bên trong có những vấn đề gì thì chỉ người trong cuộc mới rõ, hoặc cũng có những người chú trọng ý kiến cộng đồng trong quá trình hoạt động nhưng lại mắc lỗi truyền thông. Những thông tin bên trong như vậy lại ít khi đến được với công chúng, nên đa phần các thực hành sáng tạo đa văn hóa đòi hỏi chúng ta đặt những câu hỏi sâu hơn trước khi đưa các đánh giá nhanh chóng và tuyệt đối.

    Kết

    Chiếm dụng văn hoá là một lời nhắc nhở cần thiết để các nghệ sĩ hay thương hiệu cẩn trọng hơn trong tương tác của mình với các cộng đồng thiểu số. Bên cạnh những yếu tố rõ ràng như tìm hiểu kỹ về văn hoá gốc, xin phép cộng đồng chủ thể và trích đúng nguồn gốc văn hoá, việc chia sẻ quyền lợi và quyền lực trong sáng tạo xuyên văn hoá cũng rất quan trọng. Nó góp phần dịch chuyển cán cân quyền lực và hỗ trợ đưa tiếng nói của các cộng đồng thiểu số đến gần công chúng hơn. Sự thiếu nhạy cảm và thấu đáo của các nghệ sĩ, nhà thiết kế hay doanh nghiệp người Kinh nhiều khi đến từ việc thiếu kinh nghiệm tiếp xúc và làm việc sâu với các cộng đồng thiểu số. Do đó, việc hợp tác với các tổ chức hoạt động văn hoá xã hội sẵn có trong các cộng đồng có thể mang đến những góc nhìn và kiến thức cần thiết cho các tương tác sáng tạo xuyên văn hoá. Tuy nhiên, chiếm dụng văn hoá nên được xem là một cơ hội để mở ra các đối thoại đa phương với mục đích trao đổi và thấu hiểu hơn là một thước đo đạo đức tuyệt đối để tránh rơi vào khuynh hướng săn phù thuỷ (witch-hunt) cực đoan.

    Trích dẫn

    Anderson, Benedict. Imagined Communities: Reflections on the Origin and Spread of Nationalism. Verso, 2006 [1983].

    Bayly, Susan. French Anthropology and the Durkheimians in Colonial Indochina. Modern Asian Studies, vol. 34, no. 3, 2000, pp. 581-622.

    Coutts-Smith, Kenneth. “Some General Observations on the Concept of Cultural Colonialism.” The Myth of Primitivism, edited by Susan Hiller. Routledge, 1991 [1976].

    Derrida, Jacques, and Maurizio Ferraris, A Taste for the Secret. Polity Press, 2001.

    Evans, Grant. “Internal Colonialism in the Central Highlands of Vietnam.” Sojourn: Journal of Social Issues in Southeast Asia, vol. 7, no. 2, 1992, pp. 274-304….

    #chiếmdụngvănhóa #sángtạo #vănhóa #xãhộithoại

  • Chiếm dụng văn hóa ở Việt Nam (P1) – Hà Yến Chi

    Chiếm dụng văn hóa ở Việt Nam (P1) – Hà Yến Chi

    Trong những năm gần đây, chủ đề chiếm dụng văn hóa (nguyên gốc: cultural appropriation) đã thu hút nhiều sự chú ý từ giới sáng tạo và nghiên cứu, cũng như các cộng đồng văn hoá và công chúng nói chung. Tuy việc vay mượn các yếu tố văn hóa của các tộc người thiểu số trong sáng tạo và kinh doanh tại Việt Nam là một hiện tượng không hề mới, nhưng dường như đến vụ việc Biti’s năm 2021 thì cái tên “chiếm dụng văn hóa” mới chính thức được nhắc đến trong hàng loạt các tranh luận trên truyền thông. Đa phần các ý kiến phê bình cho rằng các vay mượn văn hoá không đúng cách có thể tác động xấu đến cộng đồng chủ thể là các tộc người thiểu số vốn đã bị lề hóa trong một xã hội do người Kinh chiếm đa số.

    Giày Biti’s gây tranh cãi về chiếm dụng văn hóa của cộng đồng người Chăm (Nguồn ảnh: Biti’s Việt Nam)
    Giày Biti’s gây tranh cãi về chiếm dụng văn hóa của cộng đồng người Chăm (Nguồn ảnh: Biti’s Việt Nam)

    Nguồn gốc khái niệm chiếm dụng văn hóa

    Cụm từ “cultural appropriation” được nhắc đến nhiều trên internet từ khoảng những năm đầu 2010s ở các nước phương Tây. Bản thân thuật ngữ này trong học thuật vốn mang nghĩa trung lập, dùng để chỉ chung các hiện tượng vay mượn các thực hành và tri thức văn hóa, sản phẩm trí tuệ, di tích và di sản,… từ một nhóm văn hóa khác văn hoá gốc của mình (Young 2008). Trước đây, từ “appropriation” còn được dùng để chỉ việc một nhóm yếu thế tiếp nhận các thực hành văn hóa từ nhóm ưu thế và biển đổi nó cho phù hợp với hoàn cảnh của mình như một chiến lược để thích nghi và tồn tại trong một xã hội không đảm bảo quyền bình đẳng cho họ.

    Khái niệm vay mượn văn hoá với hàm ý tiêu cực như hiện nay xuất phát từ các phân tích hậu thuộc địa (post-colonialism) trong các thập niên 70-80s để phê phán các hành vi thực dân văn hóa, khi nhóm ưu thế lấy đi không chỉ tài nguyên tự nhiên hay vật chất, mà cả tài nguyên văn hoá từ nhóm yếu thế để phục vụ cho mục đích riêng (Coutts‐Smith 1976). Đến những năm 1990s, thuật ngữ “chiếm dụng văn hoá” trở nên phổ biến khi nhắc đến hiện tượng này (Ziff & Rao 1997). Nó chỉ ra các bạo lực ngầm về văn hóa dựa trên sự mất cân bằng quyền lực mang tính hệ thống giữa các tộc người trong lịch sử của chủ nghĩa thực dân. Một số học giả gọi những hành vi vay mượn mang tính tiêu cực này cụ thể hơn là “objectionable cultural appropriation” (Young 2008) (tạm dịch : chiếm dụng văn hóa đáng lên án) hoặc “cultural misappropriation” (Scaffidi 2005) (tạm dịch : sai phạm chiếm dụng văn hóa).

    Một số luận điểm chính về chiếm dụng văn hóa

    Phân loại thực hành chiếm dụng văn hóa 

    James O. Young (2008) phân các thực hành tiếp dụng văn hoá thành 3 loại tuỳ theo đối tượng được vay mượn: vật chất, nội dung, và chủ thể (góc nhìn người trong cộng đồng). 

    1. Loại thứ nhất liên quan đến các vật thể hữu hình, ví dụ như việc các bảo tàng lớn ở các nước phương Tây vẫn nắm giữ nhiều cổ vật từ các nước thuộc địa cũ. 

    2. Loại thứ hai tập trung vào các tài nguyên văn hoá vô hình như các thực hành, nghỉ lễ, nghệ thuật, tri thức,… Đa phần các hành vi chiếm dụng văn hoá được nhắc đến trên mạng xã hội hiện nay rơi vào loại này. 

    3. Loại thứ ba xảy ra khi nhóm ưu thế lấy đi tiếng nói của nhóm yếu thế để nói về chính họ, ví dụ như hiện tượng whitewashing (dùng diễn viên da trắng để đóng các nhân vật da màu) ở Hollywood. 

    Richard A. Rogers (2006) lại phân các hành vi tiếp dụng thành 4 loại dựa theo tương quan quyền lực và chiều hướng vay mượn: trao đổi (khi nhóm vay mượn và nhóm chủ thể ngang nhau về quyền lực), thống trị (khi nhóm yếu thế vay mượn từ nhóm ưu thế), bóc lột (khi nhóm ưu thế vay mượn từ nhóm yếu thế), và xuyên văn hoá (khi thực hành mang tính đa tầng đa chiều và hỗn hợp, thường xảy ra trong quá trình toàn cầu hoá và chủ nghĩa tư bản xuyên quốc gia).

    Các luận điểm chính về thực hành chiếm dụng văn hóa

    Nhiều nhà nghiên cứu và phê bình nghệ thuật đã chỉ ra một số luận điểm để đánh giá một thực hành vay mượn văn hóa có phải là sai phạm chiếm dụng hay không. Những luận điểm này có thể tổng hợp thành 4 loại chính như sau (Young 2008, Siems 2019, Nguyen & Strohl 2019): 

    1. tổn hại (bao gồm sai lệch hay xuyên tạc thông tin, tái diễn các hình ảnh rập khuôn, thiệt hại kinh tế)

    2. xúc phạm (bao gồm thiếu tôn trọng, sử dụng sai cách, vi phạm tính thiêng hoặc tính riêng tư, thiếu nhạy cảm về lịch sử văn hoá)

    3. xâm phạm quyền sở hữu (không minh bạch nguồn gốc, không có sự cho phép của cộng đồng)

    4. suy giảm chất lượng (về thẩm mỹ hay tính chân thực (authenticity)) 

    Các lập luận này không nhất thiết tách bạch với nhau, mà có thể cùng tồn tại trong các trường hợp chiếm dụng. Ví dụ, vụ việc Fband sử dụng khăn piêu của người Thái làm khố khi biểu diễn đã xúc phạm đến tính thiêng của chiếc khăn piêu đội đầu với người Thái, đồng thời có thể phát tán thông tin sai lệch về cách dùng và ý nghĩa của nó. Hay như vụ việc tổ chức ăn tiệc tại tháp Po Klong Garai năm 2020 vừa xâm phạm đến quyền sở hữu văn hoá vừa thiếu tôn trọng luật tục tâm linh của cộng đồng Chăm tại Ninh Thuận.

    Trong các lập luận này, hai tiêu chí được cho là quan trọng nhất để xem xét tính chiếm dụng của một thực hành vay mượn văn hoá là tương quan quyền lực và ý kiến cộng đồng chủ thể.

     

    Tiêu chí về tương quan quyền lực 

    Lý thuyết về “tính áp chế” (oppression account) của Erich Matthes (2019) ưu tiên yếu tố thứ nhất, rằng để đánh giá một thực hành vay mượn có phải là chiếm dụng hay không, cần cân nhắc xem nó có tái diễn hoặc làm tăng thêm khoảng cách quyền lực sẵn có giữa nhóm vay mượn và nhóm chủ thể hay không. Lý thuyết này lý giải tại sao chiếm dụng văn hóa thường xảy ra khi nhóm đa số hoặc chiếm ưu thế vay mượn từ nhóm thiểu số hay yếu thế, mà không phải ngược lại. Nó cũng cho rằng một hành vi có thể bị coi là chiếm dụng mà không cần nhóm chủ thể phải trực tiếp lên tiếng. Do đó, nó đặc biệt hữu dụng trong những trường hợp mà cộng đồng yếu thế ít cơ hội phản biện trực tiếp, hoặc khi tiếng nói của họ ngay cả khi cất lên cũng khó đến được với công chúng. (Lý thuyết gia hậu thuộc địa nổi tiếng Gayatri Chakravorty Spivak đã phân tích hiện tượng “mất tiếng” này trong bài luận Can the subaltern speak?). Lý thuyết của Matthes cũng xét đến tính giao thoa của tương quan quyền lực, bao gồm không chỉ văn hoá tộc người mà cả địa vị kinh tế xã hội, trình độ học vấn, địa lý, v.v… Theo đó, chênh lệch quyền lực giữa cộng đồng bản địa với một tập đoàn lớn hay thương hiệu quốc tế và với một thương lái địa phương hay thương hiệu thủ công quy mô nhỏ sẽ rất khác nhau.

    Tuy nhiên, lý thuyết này ít cân nhắc đến rủi ro chiếm dụng văn hóa giữa các nhóm thiểu số với nhau. Nhà thiết kế Sa Bình (người Mông quê gốc ở Điện Biên, hiện đang làm việc tại Sài Gòn) cho biết cũng có một số thương buôn người Mông kinh doanh thổ cẩm dân tộc Thái nhưng nói là vải người Mông, gây ra ý kiến phản đối trong cả cộng đồng người Mông và người Thái. Ngoài ra, tương quan quyền lực giữa các tộc người không phải lúc nào cũng rõ ràng mà có thể thay đổi tuỳ theo phạm vi quan sát. Một nhóm có thể là yếu thế trong xã hội quốc gia, nhưng lại chiếm ưu thế ở địa phương.

    Ví dụ, nghiên cứu của Sarah Turner (2007) chỉ ra rằng trong chuỗi cung ứng thương mại thổ cẩm ở Sapa, ngoài người Kinh, người Tày cũng thường chiếm ưu thế và nắm giữ những vị trí có lợi nhuận cao hơn nhiều so với người Mông và người Dao – những người trực tiếp chế tác nhưng có xu hướng kinh doanh nhỏ theo cá nhân hoặc hộ gia đình.

    Thổ cẩm đầy sắc màu tại Sapa và câu chuyện rủi ro chiếm dụng văn hóa 
    Thổ cẩm đầy sắc màu tại Sapa và câu chuyện rủi ro chiếm dụng văn hóa 

    Tiêu chí về ý kiến của cộng đồng chủ thể

    Lý thuyết về “tính thân mật” (intimacy account) của Thi C. Nguyen và Matthew Strohl (2019) lại tập trung vào tiêu chí thứ hai – sự đồng thuận của chủ thể văn hóa. Nó cho rằng có những thực hành văn hóa mang tính “thân mật,” tức là có vai trò gắn kết những người cùng cộng đồng trong một căn tính tập thể, và việc người ngoài xâm phạm đến các thực hành này dễ trở thành chiếm dụng. Theo lý thuyết này, cộng đồng chủ thế nắm quyền quyết định cao nhất để đánh giá một thực hành có phải là chiếm dụng hay không, bất kể bản chất của nó là như thế nào.

    Tuy nhiên, ý kiến cộng đồng chủ thể không phải lúc nào cũng hiển lộ và thống nhất. Tính chiếm dụng càng cao thì cộng đồng càng dễ có tiếng nói chung. Do đó, các trường hợp xúc phạm văn hóa hay xâm phạm tính thiêng thường thu hút phản ứng rõ ràng hơn từ phía cộng đồng. Thế nhưng, đối với các thực hành tiếp dụng văn hóa nằm ở vùng xám, ngay cả cộng đồng chủ thể cũng khó đưa ra phán quyết rõ ràng, chưa kể ngay trong cùng một cộng đồng cũng có các luồng ý kiến khác nhau. Do vậy, một thực hành có thể nhận được cả sự đón nhận và phản đối từ cộng đồng chủ thể.

    Ví dụ, qua trao đổi với Mùa Mua và Tuam Khaab, 2 cựu thành viên của AHD (Action for Hmong Development) và hiện đang điều hành dự án Ná Nả, bộ phim “Lặng yên dưới vực sâu” về người Mông ở Hà Giang nhận được khá nhiều sự ủng hộ từ khán giả trẻ người Mông, nhưng cũng có nhiều ý kiến cho rằng đây là chiếm dụng chủ thể văn hoá, vì đoàn làm phim và diễn viên người Kinh khó có thể khắc họa chính xác về cuộc sống và góc nhìn của người Mông.

    Bộ phim Chuyện của Pao chưa tập trung khai thác vào tiếng đàn môi của Pao mà tập trung vào tiếng sáo của Chử, làm lệch đi góc nhìn về giới.
    Bộ phim Chuyện của Pao chưa tập trung khai thác vào tiếng đàn môi của Pao mà tập trung vào tiếng sáo của Chử, làm lệch đi góc nhìn về giới.

    Bài viết của anh Tuam Khaab về Văn hóa dân tộc thiểu số trên điện ảnh Việt được viện iSee đăng 

    Bài viết phân tích của Tuam Khaab về văn hóa Mông qua điện ảnh Việt Nam trên báo Nghệ An

    (Còn tiếp)

    #chiếmdụngvănhóa #sángtạo #vănhóa #xãhộithoại

  • Vốn Xã Hội: càng xài càng tăng – Võ Ngọc Tuyền

    Vốn Xã Hội: càng xài càng tăng – Võ Ngọc Tuyền

    Vốn xã hội càng sài càng tăng
    Vốn xã hội càng sài càng tăng
    1. Nếu kỹ năng giúp bạn có cơ hội tiếp cận công việc mong muốn, thì những mối quan hệ xung quanh ảnh hưởng đến khả năng bạn có thể lèo lái đến tương lai mình mơ ước. 

    2. “Nhất quan hệ, Nhì Tiền tệ” có phải lúc nào cũng xấu hay không và làm sao chúng ta có thể tận dụng được điều này?

    Vốn Xã Hội – tài sản vô giá

    Khi bắt đầu đi làm là thời điểm bạn có thêm nhiều hơn các mối quan hệ công việc, quan hệ xã hội bên cạnh người thân và bạn bè đồng trang lứa. Nếu kiến thức, kỹ năng giúp bạn có cơ hội tiếp cận công việc mong muốn, thì những mối quan hệ xung quanh ảnh hưởng đến khả năng bạn có thể lèo lái đến tương lai mình mơ ước.

    Vốn Xã Hội có ba thành tố chính trong đó bao gồm:
    1. Mạng lưới xã hội: là sự tương tác và mối quan hệ giữa các cá nhân hoặc tổ chức.

    2. Tin cậy và có đi có lại: tập trung vào chất lượng của các mối quan hệ, hơn là số lượng các kết nối.

    3. Các chuẩn mực và giá trị được chia sẻ: có cùng kỳ vọng chung giúp cho các hoạt động tương tác trở nên hiệu quả hơn.

    Ba thành tố chính của Vốn Xã Hội

    Ba thành tố chính của Vốn Xã Hội [2]

    Nhiều chia sẻ mang hơi hướng châm biếm về khái niệm “tiền tệ không bằng quan hệ” cũng phần nào phản ảnh đúng thực tế này. Một nghịch lý là, con người càng có nhiều mối quan hệ thì số lượng người bạn có thể tin càng trở nên ít đi. Một phần cũng do các câu chuyện lừa đảo (scam) xuất hiện ngày càng nhiều trên các bài viết, mạng xã hội, khiến sự tin tưởng của bạn vào một người chưa từng quen càng trở nên yếu ớt. Do đó, những yếu tố như “thiện chí, sự đoàn kết, sự đồng cảm” mà Lyda Judson Hanifan, một nhà nghiên cứu người Mỹ, người đã tạo ra thuật ngữ Vốn xã hội “Social Capital” chỉ ra [1], bỗng trở thành tiền đề quan trọng giúp xây dựng lòng tin giữa hai con người xa lạ trên hành tinh hơn 7 tỉ người này. 

    Cũng vì lý do đó mà Vốn Xã Hội (Social Capital) trở thành tài sản cực kỳ quan trọng trong xã hội, khi bạn có được lòng tin, sự đồng cảm và giúp đỡ của người bạn biết hay làm việc cùng, thì mọi vấn đề thường có xu hướng trở nên nhẹ nhàng và dễ xử lý hơn hẳn, “lòng tin khiến mọi thứ chạy nhanh như tốc độ của ánh sáng” là một câu nói không ngoa. "Hãy cho tôi biết 5 người bạn thân của bạn là ai?"

    Ngạn ngữ Anh có câu: “Hãy cho tôi biết bạn của anh là ai, tôi sẽ chỉ cho anh biết, anh là người như thế nào’. Nếu xung quanh bạn là những người tài giỏi, nỗ lực và tràn đầy năng lượng tích cực, điều này hiển nhiên sẽ ảnh hưởng đến cách bạn nhìn nhận về cuộc sống và ứng xử.

    Trong câu chuyện mới ra mắt của Podcast mùa 3 của Dear Our Community “Khi người khác nhìn nhận về mình khác với những gì mình nghĩ”, chị Maggie (Tuyết Anh) chia sẻ Vốn Xã Hội đã giúp thay đổi hoàn toàn cuộc đời và công việc của chị như thế nào.  

    Với sự tin bên ngoài, năng lượng và chia sẻ tích cực, không ai nghĩ trước đây chị Maggie Maggie luôn cảm thấy rất hoảng sợ ở bên trong. Công việc trước đó cho chị cơ hội được ra vào những chỗ đắt tiền, được sống một cuộc sống ai nhìn vào cũng thèm muốn. Nhưng bây giờ nghĩ lại, chị lại cảm thấy may mắn khi quyết định dứt bỏ công việc, lối sống xa hoa nhưng hời hợt bên ngoài đó. Sự thay đổi này đến chính nhờ câu nói của người sếp cũ của chị đã khiến chị giật mình thức tỉnh nhìn lại những niềm tin đầy “mật ngọt” về bản thân mà chị luôn bao bọc lấy mình. Sự thật là thứ người ta nhìn về chị không phải như chị luôn nghĩ. Chị vẫn còn bật khóc mỗi khi nhớ lại trải nghiệm ấy.

     “Khi người khác nhìn nhận về mình khác với những gì mình nghĩ”, chị Maggie (Tuyết Anh)
    “Khi người khác nhìn nhận về mình khác với những gì mình nghĩ”, chị Maggie (Tuyết Anh)

    Do đó, xây dựng Vốn Xã Hội ở đây không chỉ để phục vụ mục tiêu lợi ích công việc cá nhân, đôi khi Vốn Xã Hội còn giúp bạn có được những lời chia sẻ, góp ý quan trọng và cần thiết của những người thật sự quan tâm đến bạn giúp bạn không bị lạc lối trên con đường tìm kiếm giá trị và định hình bản thân.

    Các “tip” giúp xây dựng Vốn Xã Hội
    1. Luôn tìm cách mở rộng các mối quan hệ bằng việc chủ động tham gia những sự kiện khác nhau, nơi bạn có thể gặp được những con người có cùng sự quan tâm và giá trị mà bạn đang tìm kiếm.

    2. Chủ động chia sẻ quan điểm, góc nhìn của mình trong các buổi gặp gỡ, điều này sẽ giúp người thích suy nghĩ của bạn sẽ chú ý đến bạn, mở ra các cơ hội làm quen mới. 

    3. Hãy mở lòng chia sẻ những mối quan tâm, giá trị của bạn trong cuộc sống để những người có chung giá trị có thể nhận ra và kết nối với bạn. 

    4. Luôn tìm cách giúp người khác hơn là chỉ nghĩ cách làm sao người khác có thể giúp mình. Dù không có nhiều kinh nghiệm, chuyên môn nhưng biết đâu bạn lại có thể kết nối với người có thể giúp họ. Đôi khi sự giúp đỡ có thể đến từ những điều rất nhỏ bé như chia sẻ một chỗ ăn ngon hay nơi để thư giãn sau một ngày làm việc mệt nhọc. Hãy cho đi rồi bạn sẽ nhận lại. 

    Cuối cùng là, hãy luôn tìm kiếm những con người có những giá trị mà bạn yêu thích và ngưỡng mộ, bằng tất cả nỗ lực để giữ họ ở lại xung quanh. Bởi vì trong hành trình du hành trên đại dương bao la của cuộc sống, có lúc họ sẽ là những cơn gió thuận dòng giúp con thuyền của bạn đi nhanh hơn và đôi khi là bánh lái để giúp bạn rẽ con thuyền về đúng hướng.

    Ngọn Ngành Nghề & Xã Hội Thoại

    Nhằm mang đến những nội dung tích cực cho các bạn trẻ trong hành trình nghề nghiệp và đóng góp cho xã hội, Dear Our Community bắt đầu có hai chuyên mục mới mang tên Ngọn Ngành Nghề – đồng hành cùng bạn từ khi chọn nghề, làm nghề đến giỏi nghề và Xã Hội Thoại – đề cập đến những vấn đề nóng của xã hội, mong các bạn đón nhận và ủng hộ. Nhấn vào đây để đọc các bài viết khác về chủ đề Ngọn Ngành Nghề & Xã Hội Thoại.

    Nguồn tham khảo

    [1] Vốn xã hội – Tài sản cho phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam

    [2]  Đo lường và đánh giá Vốn Xã Hội 

    #chonnghe #kynang #ngonnganhnghe #vonxahoi