Thẻ: Trách Nhiệm Xã Hội

  • Dear Our Community cùng Ipsos ra mắt Báo cáo Vietnam ESG Practitioner Dialogue 2026: Tiếng nói từ 50 nhà thực hành ESG Việt

    Dear Our Community cùng Ipsos ra mắt Báo cáo Vietnam ESG Practitioner Dialogue 2026: Tiếng nói từ 50 nhà thực hành ESG Việt

    Sáng Thứ Năm tuần này, tại CT Innovation Hub, hơn 60 lãnh đạo doanh nghiệp đã có mặt cho một buổi sáng đặc biệt. Đó là lễ ra mắt Báo cáo Vietnam ESG Practitioner Dialogue 2026 và sáng kiến cộng đồng cùng tên, do Dear Our Community phối hợp cùng Ipsos Việt Nam và Hội Doanh nghiệp Xanh TP.HCM tổ chức.

    Nhưng câu chuyện thực sự không bắt đầu vào sáng hôm đó. Nó bắt đầu từ nhiều tháng trước đây, khi chúng tôi nhận ra một điều mà gần như không ai trong ngành nói thẳng.

    Hành trình ESG có thể rất cô đơn

    Trong suốt nửa năm qua, đội ngũ DOC và Ipsos đã ngồi xuống với 50 nhà thực hành ESG đang trực tiếp triển khai tại các tập đoàn đa quốc gia, doanh nghiệp niêm yết, doanh nghiệp Việt và SME. Tổng cộng 31 cuộc phỏng vấn chuyên sâu, mỗi cuộc kéo dài một giờ, cộng với 30 khảo sát có cấu trúc.

    Chúng tôi đi tìm bức tranh thật về thực hành ESG tại Việt Nam: ai đang làm, làm như thế nào, gặp khó ở đâu, và đâu là những giải pháp đã thực sự hoạt động.

    Trong quá trình đó, một câu nói lặp đi lặp lại đến mức chúng tôi không thể bỏ qua: “Hành trình ESG có thể rất cô đơn.”

    Câu này đến từ những người đang đứng đầu ở các doanh nghiệp lớn. Đến từ những người trẻ vừa được giao nhiệm vụ ESG bên cạnh công việc chính của mình. Đến từ cả những lãnh đạo đã có vị trí và quyền lực, nhưng vẫn cảm thấy mình đang đi một mình trong một lĩnh vực mới mẻ và nhiều áp lực.

    Báo cáo của chúng tôi cũng chỉ ra một con số đáng để suy ngẫm: chỉ một phần ba thành viên cộng đồng làm việc với vai trò chuyên trách ESG. Hai phần ba còn lại đang kiêm nhiệm bên cạnh các vai trò chính khác.

    Khi báo cáo trở thành lý do để bắt đầu một điều gì đó lớn hơn

    Báo cáo đã hoàn thành với rất nhiều phát hiện quan trọng. ESG đã trở thành “giấy phép hoạt động” trong chuỗi giá trị toàn cầu. Năm điểm nghẽn lớn đang cản trở doanh nghiệp Việt. Bốn cách tiếp cận ESG đang song song tồn tại. Tám ưu tiên đang định hình chiến lược của các doanh nghiệp.

    Nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc xuất bản một tập tài liệu, chúng tôi đã không hoàn thành sứ mệnh của mình.

    Đó là lý do sáng kiến Vietnam ESG Practitioner Dialogue ra đời. Đây không phải là một báo cáo. Đây là một cộng đồng. Là một nền tảng đối thoại lấy cảm hứng từ mô hình Ipsos ESG Council toàn cầu, dành riêng cho những người đang trực tiếp làm ESG tại Việt Nam.

    Tại đây, các nhà thực hành tìm thấy nhau. Họ chia sẻ kinh nghiệm thật, hỏi những câu hỏi mà các hội thảo công khai không tiện hỏi, và tìm ra giải pháp từ chính những người đã thử và đã sai.

    Tại sao DOC chọn đồng hành cùng sáng kiến này

    Dear Our Community tồn tại vì một niềm tin: quá trình chuyển đổi sang thực hành bền vững không thất bại vì thiếu nhận thức. Nó thất bại vì thiếu ngôn ngữ phù hợp, thiếu công cụ thực tiễn, thiếu nguồn lực, và thiếu một cộng đồng hiểu rõ bối cảnh thực tế của doanh nghiệp Việt.

    Sáng kiến Vietnam ESG Practitioner Dialogue là một mảnh ghép quan trọng trong việc lấp những khoảng trống đó. Bên cạnh đó, DOC đang tiếp tục xây dựng các sản phẩm ESG dành riêng cho doanh nghiệp Việt: đào tạo đội ngũ theo từng ngành, các bộ công cụ thực hành, đồng hành xây dựng chiến lược, và kết nối practitioner trong hệ sinh thái cộng đồng.

    Trong tuần qua, chúng tôi cũng đã ra mắt Mentoring HubExpert Hours, hai sản phẩm dành cho những practitioner trẻ và đội ngũ ESG đang kiêm nhiệm. Vì chúng tôi tin, khi một cuộc trò chuyện đúng người có thể thay đổi cả một hướng đi, thì không ai nên đi một mình trên hành trình này.

    Đây mới chỉ là bước khởi đầu

    Báo cáo Vietnam ESG Practitioner Dialogue 2026 là phiên bản đầu tiên. Cộng đồng cùng tên cũng vừa chính thức ra mắt. Trong năm 2026, chúng tôi sẽ tiếp tục triển khai các phiên đối thoại chuyên sâu, các nghiên cứu tiếp theo, và các hoạt động đồng hành cùng doanh nghiệp Việt trên hành trình ESG của mình.

    Cảm ơn 50 nhà thực hành đã đặt niềm tin vào báo cáo này từ những ngày đầu. Cảm ơn các đối tác Ipsos Việt Nam và Hội Doanh nghiệp Xanh TP.HCM đã đồng hành. Và cảm ơn cộng đồng đã có mặt trong căn phòng sáng hôm đó.


    Khám phá báo cáo và đồng hành cùng chúng tôi:

    📥 Tải toàn văn báo cáo Vietnam ESG Practitioner Dialogue 2026: [Link]

    🌱 Khám phá sản phẩm ESG của DOC dành cho doanh nghiệp Việt Dear Our Community đang hoàn thiện nhóm sản phẩm ESG dành riêng cho doanh nghiệp mong muốn thực hành ESG, bao gồm các lộ trình đào tạo theo ngành, bộ công cụ thực hành và chương trình đồng hành dài hạn. Hãy cùng chờ đón thông tin ra mắt chính thức trong thời gian tới!

  • Thế hệ trẻ – Lực lượng mạnh mẽ để ứng phó với biến đổi khí hậu và xây dựng tương lai bền vững

    Thế hệ trẻ – Lực lượng mạnh mẽ để ứng phó với biến đổi khí hậu và xây dựng tương lai bền vững

    Thế hệ trẻ là những đối tượng đang gánh chịu trực tiếp và gián tiếp hững hậu quả của biến đổi khí hậu. Đã đến lúc, chúng ta không thể ngoảnh mặt làm ngơ hay cho rằng biến đổi khí hậu là câu chuyện của tương lai xa hay chỉ thuộc về những vùng đất xa xôi mà chúng ta sẽ không bao giờ đặt chân đến.

    Thế hệ trẻ là đối tượng dễ bị tổn thương nhất trước biến đổi khí hậu… 

    biến đổi khí hậu

    Báo cáo Rủi ro Toàn cầu năm 2025 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum) đã xếp hạng các hiện tượng thời tiết cực đoan do biến đổi khí hậu là một trong những rủi ro toàn cầu lớn nhất trong triển vọng mười năm, và được xếp hạng cao nhất về mức độ nghiêm trọng. Đồng thời, niềm tin vào các thể chế đang bị xói mòn, đặc biệt là ở thế hệ trẻ, những người cảm thấy bị gạt ra ngoài lề các quyết định định hình cuộc sống của họ. Nỗi lo âu sinh thái vì thế cũng tăng theo. 

    Theo UNICEF, những thảm họa thời tiết tàn khốc này đang là trở thành trạng thái bình thường mới trên toàn cầu. Tuy nhiên, tác động của biến đổi khí hậu lên con người là không đồng đều.   Khi thiên tai xảy ra, trẻ em mất đi cơ hội học tập, nguồn dinh dưỡng, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng như không được tiếp cận với nguồn nước sạch và dịch vụ vệ sinh. Trẻ em gái, trẻ em dân tộc thiểu số và trẻ em từ các cộng đồng có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt dễ bị tổn thương do các chuẩn mực và sự phân biệt đối xử về giới, xã hội đã tồn tại từ trước. Các em bị tách khỏi những dịch vụ xã hội quan trọng cũng như sự bảo vệ ngay khi các em cần đến chúng nhất.  

    …Nhưng thế hệ trẻ cũng là lực lượng nòng cốt để thay đổi thế giới 

    biến đổi khí hậu

    Trong hai báo cáo: "Thanh niên trong chuyển đổi năng lượng công bằng" và "Thanh niên trong giáo dục về biến đổi khí hậu" (thuộc Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) và Cục Biến đổi khí hậu thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho thấy giới trẻ ở Việt Nam đang nỗ lực giải quyết các thách thức của biến đổi khí hậu và đề xuất các giải pháp. Báo cáo nhấn mạnh sự quan tâm mạnh mẽ của giới trẻ trong việc đóng góp cho một tương lai sạch hơn, xanh hơn. Báo cáo "Thanh niên trong chuyển đổi năng lượng công bằng" đã chỉ ra vai trò quan trọng của thanh niên với tư cách là những người ủng hộ, nhà giáo dục, nhà đổi mới và nhà lãnh đạo trong các hoạt động sử dụng năng lượng bền vững. Người trẻ cũng đang tận dụng lợi thế của chuyển đổi số và mạng xã hội để nâng cao kiến thức và kỹ năng về biến đổi khí hậu. 

    Nhu cầu cấp thiết về việc tăng cường sự tham gia của giới trẻ vào việc hoạch định chính sách khí hậu càng được nhấn mạnh bởi tốc độ biến đổi khí hậu ngày càng nhanh và thời gian cho những hành động thiết thực đang ngày càng thu hẹp. Cùng chung quan điểm này, hầu hết giới chuyên gia đều nhận định, thế hệ trẻ có thể tham gia tích cực vào các quá trình ra quyết định định hình tương lai của trẻ em. 

    Một số sáng kiến có thể kể đến như Mạng lưới Thanh niên giảm thiểu rủi ro thiên tai (RJRRD-COL) được thành lập vào tháng 2/2022 tại Colombia, lấy ý tưởng từ 3 thanh niên trẻ đầy nhiệt huyết đã thu hút ngày càng nhiều thanh niên tham gia vào công tác giảm thiểu rủi ro thiên tai thông qua đóng góp các ý tưởng và giải pháp sáng tạo để giải quyết các thách thức trong hiện tại và tương lai.

    Hay như thế hệ trẻ của Gruzia – đã tổ chức một hội thảo với chủ đề về vai trò của thanh, thiếu niên trong việc tạo ra một tương lai thông minh về khí hậu. Đây là hội thảo có quy mô và tầm vóc khi được tài trợ bởi Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Trung tâm Thông tin và Giáo dục môi trường thuộc Bộ Bảo vệ môi trường và Nông nghiệp Gruzia, Quỹ khí hậu xanh, Cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế Thụy Điển (Sida) và Cơ quan Phát triển và hợp tác Thụy Sĩ (SDC). (theo báo Biên phòng). 

    Ngoài ra, các dự án được hỗ trợ bởi Youth4Climate, trải rộng từ Pakistan, Liberia, Uganda,… cũng đều rất đa dạng về đối tượng hướng đến. Những hoạt động hay sự kiện như Mạng lưới Thanh niên hành động vì khí hậu, Hội nghị thượng đỉnh về thanh niên về biến đổi khí hậu,… cũng là những không gian và cơ hội để người trẻ có học hỏi và lên tiếng về biến đổi khí hậu. 

    Lobal Youth Summit – Nỗ lực kéo người trẻ lại gần với Đồng bằng sông Cửu Long 

    biến đổi khí hậu

    Là một trong những chương trình được thiết kế để kết nối người trẻ với biến đổi khí hậu, cụ thể là biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long, Lobal Youth Summit xoay quanh các thách thức thực tiễn của doanh nghiệp thuộc ba lĩnh vực: Nông nghiệp tuần hoàn – Quản trị nước – Năng lượng tái tạo. 

    Dear Our Community mong muốn đây là một đòn bẩy tích cực kết nối người trẻ – doanh nghiệp – chuyên gia để người trẻ có không gian để va chạm thực tế, có cơ hội để tiếp cận với những vấn đề thực tiễn của doanh nghiệp, ngành nghề và cộng đồng, từ đó thiết kế các giải pháp ứng phó, thích nghi với biến đổi khí hậu hiệu quả. Việc kiến tạo những không gian và cơ hội thích hợp để trao quyền cho người trẻ là vô cùng quan trọng, bởi chỉ có thể, người trẻ mới có thể hiểu về biến đổi khí hậu, các thách thức thực tế, những vấn đề nan giải và khó nhằn khi xây dựng các giải pháp đi vào đời sống. 

    Lobal Youth Summit đã đi đến chặng cuối. Đừng bỏ qua sự kiện Summit Day – Vòng chung kết giữa 5 đội thi sẽ diễn ra vào ngày 06/12/2025. Summit Day sẽ là nơi các đội thi trình bày các ý tưởng tiềm năng cùng prototype được xây dựng trong quá trình hai tháng ươm mầm. 

    Quan tâm đến biến đổi khí hậu tại ĐBSCL không phải là trách nhiệm của riêng chính phủ, các nhà khoa học hay nhà hoạch định chính sách. Đó còn là trách nhiệm của mỗi chúng ta, đặc biệt là thế hệ trẻ.

    Đăng ký tham gia Summit Day ngay tại: https://lnkd.in/gc2ryTtk

  • Gen Z chọn việc không chỉ vì lương: Giá trị & tác động xã hội mới là “điểm cộng” quyết định

    Gen Z chọn việc không chỉ vì lương: Giá trị & tác động xã hội mới là “điểm cộng” quyết định

    Trong nhiều thập kỷ, việc lựa chọn nghề nghiệp thường xoay quanh hai chữ “ổn định”: lương đủ sống và một công việc lâu dài. Nhưng Gen Z – thế hệ sinh ra và lớn lên cùng internet, toàn cầu hóa và biến động khí hậu, đang tìm kiếm những điều mới. Họ không chỉ tìm kiếm một công việc để “kiếm sống”, mà còn là nơi để “sống có ý nghĩa”. Đối với họ, thu nhập vẫn quan trọng, nhưng chưa bao giờ là tất cả.

    Vì sao Gen Z đang “đổi luật chơi”?

    tác động xã hội

    Lớn lên cùng sự bùng nổ của Internet, Gen Z đã chống chọi với những tác động của biến đổi khí hậu. Họ chứng kiến bất bình đẳng xã hội và những biến động chưa từng có về kinh tế, chính trị và công nghệ. Điều này hình thành nên xu hướng quan tâm đến các vấn đề xã hội, cộng đồng, và môi trường. Họ không chỉ chú trọng vào kinh tế mà còn tìm kiếm ý nghĩa trong công việc.

    Theo Deloitte, có đến 86% Gen Z cho rằng tác động xã hội và môi trường của một doanh nghiệp là yếu tố then chốt khi lựa chọn nơi làm việc. Đồng thời, 77% sẵn sàng rời bỏ công việc nếu cảm thấy giá trị cá nhân không phù hợp với tổ chức. Báo cáo LinkedIn Workforce Confidence Index cũng chỉ ra rằng, ngoài lương, cơ hội phát triển và văn hóa doanh nghiệp chiếm đến 70% lý do giữ chân Gen Z. Thêm nữa, báo cáo mới đây của UNDP từ Nghiên cứu Góc nhìn và mức độ sẵn sàng của thanh niên đối với việc làm trong khu vực công tại Việt Nam (2025) đã nêu ra ngoài mức lương và phúc lợi, người trẻ cũng ưu tiên cơ hội phát triển bản thân và thăng tiến trong sự nghiệp, môi trường làm việc thân thiện, sáng tạo và hòa nhập.

    Tóm gọn lại, bộ tiêu chí “3M” đang định hình lựa chọn của Gen Z:

    • Money: Thu nhập công bằng, minh bạch.

    • Meaning: Công việc có ý nghĩa, tạo giá trị xã hội.

    • Mastery: Cơ hội học hỏi, phát triển kỹ năng (đặc biệt là kỹ năng số & AI).

    Điều Gen Z mong muốn một công việc

    tác động xã hội

    Nhiều Gen Z ngày nay sẵn sàng chọn một công ty có định hướng phát triển bền vững rõ ràng. Họ không chỉ chạy theo mức lương cao mà còn tìm kiếm giá trị. Họ quan tâm đến văn hóa tổ chức, cách doanh nghiệp hành xử với nhân viên và cộng đồng, và môi trường làm việc thân thiện, sáng tạo và hòa nhập. Ví dụ điển hình có thể thấy là: Unilever liên tục lọt top “nơi làm việc đáng mơ ước” nhờ chiến lược bền vững và văn hóa đa dạng, nơi nhân viên cảm thấy giá trị cá nhân được tôn trọng.

    Tác động xã hội cũng là một tiêu chí hàng đầu. Ngày càng có nhiều Gen Z không hài lòng với những chương trình CSR mang tính bề nổi. Họ đánh giá cao đóng góp xã hội và đòi hỏi những hành động cụ thể, đo lường được.

    Cơ hội phát triển bản thân, kỹ năng và thăng tiến trong sự nghiệp là thỏi nam châm mạnh mẽ. Thăng tiến không chỉ dừng lại ở mặt chức vụ mà còn liên quan đến việc tích lũy kỹ năng, thử nghiệm nhiều vai trò khác nhau và học hỏi từ đồng nghiệp, mentors. Những công ty tạo môi trường học tập liên tục, có mentor đồng hành và sẵn sàng trao thử thách thực tế sẽ luôn được Gen Z ưu tiên.

    Gen Z quan tâm tới cơ hội phát triển và môi trường làm việc không có nghĩa họ không quan tâm tới mức lương và phúc lợi. Họ đề cao sự minh bạch và công bằng, đặc biệt trong thỏa thuận mức lương và phúc lợi. Quy trình tuyển chọn, đánh giá hiệu suất cho đến cơ hội thăng tiến – mọi thứ cũng cần rõ ràng và nhất quán. Các doanh nghiệp áp dụng cơ chế đánh giá 360 độ hay chính sách minh bạch thường giữ chân Gen Z lâu hơn, bởi họ thấy mình được tôn trọng trong một hệ thống công bằng.

    Thế nào là một công việc có ý nghĩa?

    tác động xã hội

    Từ những mong muốn trên của thế hệ Gen Z, ta có thể thấy một công việc có ý nghĩa không chỉ dừng lại ở việc mang về thu nhập ổn định. Nó còn phải tạo ra sự gắn kết giữa giá trị cá nhân và tác động tích cực ra bên ngoài. Đó có thể là việc bạn thấy rõ nỗ lực hằng ngày của mình đang góp phần vào một mục tiêu lớn hơn. Khi công việc giúp bạn cảm thấy mình đang tạo nên sự thay đổi, dù nhỏ hay lớn, nó trở thành nguồn cảm hứng để bạn tiếp tục gắn bó lâu dài.

    Gen Z không chỉ chờ đợi sự thay đổi từ doanh nghiệp. Họ còn chủ động tìm kiếm cơ hội để biến mối quan tâm xã hội thành kỹ năng nghề nghiệp. Một trong những cách rõ ràng nhất chính là dấn thân vào những sân chơi có thật, giải quyết bài toán thật, để vừa học hỏi vừa tạo giá trị.

    Sân chơi mới cho Gen Z: Lobal Youth Summit 2025

    Không chỉ dừng lại ở công việc có ý nghĩa tạo tác động xã hội, những dự án mang ảnh hưởng tích cực tới cộng đồng cũng được Gen Z săn đón.

    Lobal Youth Summit tổ chức bởi Dear Our Community và Startup Vietnam Foundation, phối hợp cùng nhiều đối tác là một dự án như vậy. Với chủ đề "tri thức địa phương", "tác động toàn cầu" và trọng tâm là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, chương trình mang đến cho bạn không chỉ kiến thức, mà cả trải nghiệm và giải pháp thực tế giải quyết những vấn đề thực tiễn tại khu vực.

    Tại đây, bạn sẽ có cơ hội tham gia field trip để trực tiếp hiểu rõ thách thức tại ĐBSCL. Bạn cũng sẽ thử sức với Industry Challenges trong ba lĩnh vực nóng: 🌱 nông nghiệp tuần hoàn, ⚡ năng lượng tái tạo, 💧 quản lý nguồn nước. Song song đó là những buổi mentoring 1-1 cùng chuyên gia & doanh nghiệp, workshop đổi mới sáng tạo, và tập huấn kỹ năng AI cho nghiên cứu & khí hậu.

    Đặc biệt, tại Demo Day ở TP.HCM, bạn sẽ được trình bày giải pháp trước các doanh nghiệp, nhà đầu tư và chuyên gia. Đây là cơ hội không chỉ để khẳng định bản thân, mà còn có thể gọi vốn và biến ý tưởng thành hiện thực. Đây không chỉ là một cuộc thi, mà là cơ hội để bạn xây dựng portfolio tác động, rèn kỹ năng “hot” trên thị trường lao động, và kết nối với mentor, quỹ và doanh nghiệp đồng hành. Trên hết, đây là cơ hội để bạn làm một công việc có ý nghĩa và tạo tác động tích cực.

    Gen Z có thể bắt đầu từ những hành động nhỏ, nhưng để bước xa hơn, họ cần cộng đồng và môi trường hỗ trợ. Nếu bạn muốn sự nghiệp của mình không chỉ dừng ở “Money” mà còn mang “Meaning” và “Mastery”, Lobal Youth Summit 2025 chính là bệ phóng dành cho bạn.

    Hãy để hành trình này trở thành khởi đầu cho sự nghiệp có tác động mà bạn hằng mong muốn. Đây là chuyến tàu không phải lúc nào cũng có lại – đừng bỏ lỡ!

    Tìm hiểu thêm tại: https://www.dearourcommunity.com/lobalyouthsummit

  • Du lịch bền vững: Xu hướng hay trách nhiệm?

    Du lịch bền vững: Xu hướng hay trách nhiệm?

    Trong những năm gần đây, thuật ngữ "du lịch bền vững" xuất hiện ngày càng nhiều trên các diễn đàn du lịch và truyền thông. Nhưng liệu đây chỉ là một xu hướng hay thực sự là trách nhiệm của từng cá nhân và doanh nghiệp? Để hiểu rõ hơn về chủ đề này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với chị Soline Lê, Phó khoa tại Keiser University Vietnam, nhà nghiên cứu về phát triển bền vững và bao trùm, người có nhiều kinh nghiệm về quản trị du lịch sinh thái và điểm đến.

    du lịch bền vững

    Bản chất của du lịch bền vững

    Theo chị Soline, thuật ngữ "du lịch bền vững" dễ khiến nhiều người chỉ nghĩ đến yếu tố môi trường. Tuy nhiên, trong tiếng Anh, từ "environment" không chỉ bao gồm thiên nhiên mà còn đề cập đến văn hóa và con người địa phương. Vì vậy, du lịch bền vững không đơn thuần là bảo vệ tài nguyên tự nhiên mà còn phải đảm bảo lợi ích kinh tế và xã hội cho cộng đồng. Đây chính là sự phát triển từ "du lịch có trách nhiệm" (Responsible Tourism), với hai trụ cột chính là bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân.

    Chị cũng nhấn mạnh rằng du lịch bền vững không có nghĩa là không gây tác động nào đến môi trường. Con người luôn để lại tác động lên môi trường ở bất kỳ nơi đâu họ đặt chân đến. Tuy nhiên, điều quan trọng là làm thế nào để giảm thiểu tác động tiêu cực và cân bằng giữa lợi ích kinh tế, môi trường và xã hội, hay còn được gọi là mô hình "Triple Bottom Line".

    Những thách thức trong phát triển du lịch bền vững

    Dù có nhiều lợi ích, du lịch bền vững vẫn đối mặt với không ít thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là nhận thức chưa đầy đủ. Theo chị Soline, tại Việt Nam, nhiều người vẫn hiểu sai về khái niệm này, chỉ tập trung vào khía cạnh môi trường mà bỏ qua yếu tố kinh tế và xã hội. Điều này dẫn đến sự mất cân bằng trong chiến lược phát triển.

    Bên cạnh đó, lợi nhuận ngắn hạn vẫn là ưu tiên của nhiều doanh nghiệp. Các chủ đầu tư thường đặt câu hỏi: "Nếu tôi đầu tư vào bền vững, tôi sẽ thu được gì?". Để giải quyết vấn đề này, cần có những chính sách hỗ trợ giúp doanh nghiệp thấy được lợi ích dài hạn của việc phát triển bền vững, chẳng hạn như tăng lòng tin của khách hàng, từ đó tạo nguồn thu bền vững và tăng giá trị thương hiệu hay tối ưu hoá chi phí thông qua sử dụng nguồn tài nguyên kết hợp công nghệ hợp lý. Ví dụ: nguyên vật liệu và cấu trúc xây dựng thân thiện với môi trường giúp tận dụng ánh sáng và không khí tự nhiên, từ đó giảm thiểu chi phí điện vốn rất cao trong lĩnh vực lưu trú.

    Ngoài ra, cơ sở hạ tầng du lịch chưa đồng bộ cũng là một rào cản. Một số điểm đến có doanh nghiệp triển khai mô hình bền vững rất tốt, nhưng các dịch vụ xung quanh như nhà hàng, khách sạn, phương tiện di chuyển lại chưa đạt tiêu chuẩn tương ứng. Điều này làm giảm trải nghiệm của du khách và khiến du lịch bền vững khó mở rộng trên diện rộng.

    Gen Z và du lịch bền vững: Nhận thức có đi đôi với hành động?

    Gen Z là nhóm khách du lịch đang định hình xu hướng tiêu dùng mới, với sự quan tâm đặc biệt đến trách nhiệm xã hội và môi trường. Báo cáo từ The Outbox Company năm 2024 cho thấy 59.2% du khách Gen Z tìm kiếm thông tin du lịch qua mạng xã hội, và hơn 50% ưa chuộng các hoạt động liên quan đến văn hóa, thiên nhiên.

    du lịch bền vững

    Mặt khác, Gen Z cũng đòi hỏi sự tiện lợi cao. Nhiều bạn trẻ muốn lưu trú tại các khách sạn xanh và có đủ tiện ích như điều hòa hay dịch vụ hiện đại. Khi đi vào rừng để tìm sự thư giãn, họ vẫn thích có không gian lung linh ánh đèn và có thể dễ dàng chia sẻ khoảnh khắc lên mạng xã hội. Điều này đặt ra thách thức cho các doanh nghiệp du lịch bền vững: làm thế nào để vừa đáp ứng nhu cầu trải nghiệm của du khách, vừa đảm bảo bảo vệ môi trường một cách hiệu quả?

    Một trong những mô hình thành công trong việc cân bằng du lịch bền vững và kinh tế là Sơn Đoòng. Nhờ chính sách giới hạn số lượng khách và chiến lược giá cao, điểm đến này vẫn ít nhiều giữ được vẻ hoang sơ, đồng thời mang lại lợi ích kinh tế lớn. Ngoài ra, đơn vị vận hành tour tại khu vực này luôn phải thiết kế khoảng thời gian nghỉ hợp lý giữa các tour để thiên nhiên có thời gian hồi phục và tái sinh.

    Theo chị Soline, thành công của Sơn Đoòng đến từ sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, doanh nghiệp, tổ chức bảo tồn, cùng với các tiêu chuẩn khắt khe từ UNESCO. Bên cạnh đó, nhóm du khách được lựa chọn kỹ lưỡng – những người có ý thức cao về bảo tồn và sẵn sàng chi trả cho trải nghiệm chất lượng – cũng góp phần quan trọng trong việc duy trì sự bền vững của điểm đến này. Khi tất cả các bên cùng chung tay, việc bảo tồn mới thực sự hiệu quả, nếu không, dù một bên nỗ lực đến đâu cũng khó đạt được sự phát triển lâu dài.

    Hướng đi nào cho tương lai?

    Du lịch bền vững đòi hỏi sự phối hợp của nhiều bên liên quan: từ chính quyền, doanh nghiệp đến khách du lịch và cộng đồng dân cư địa phương. Các doanh nghiệp cần cam kết thực hiện các biện pháp bền vững ngay từ đầu, thay vì chỉ đối phó khi áp lực từ thị trường gia tăng. Chính quyền cần có các chính sách hỗ trợ và kiểm soát chất lượng để đảm bảo các tiêu chuẩn không chỉ tồn tại trên giấy tờ. Đồng thời, du khách cũng cần nâng cao nhận thức và thay đổi thói quen tiêu dùng của mình, từ việc chọn nơi lưu trú đến cách tương tác với cộng đồng địa phương.

    Chỉ khi tất cả các yếu tố này được kết hợp một cách chặt chẽ, du lịch bền vững mới có thể trở thành một chuẩn mực thực sự, thay vì chỉ là một xu hướng thoáng qua. Khi chúng ta đi du lịch có trách nhiệm, không chỉ thiên nhiên và cộng đồng địa phương được hưởng lợi, mà chính mỗi người cũng sẽ có những trải nghiệm trọn vẹn và ý nghĩa hơn.

    Chân Mộc. 

  • Ngày Quốc tế Phụ Nữ (8/3) đã thay đổi vai trò giới trong gia đình và xã hội ra sao?

    Ngày Quốc tế Phụ Nữ (8/3) đã thay đổi vai trò giới trong gia đình và xã hội ra sao?

    Bình đẳng giới là động lực phát triển của toàn xã hội, nơi mỗi cá nhân được tự do định hình cuộc sống mà không bị gò bó trong khuôn mẫu giới tính. Nhân ngày Quốc tế Phụ nữ (8/3) hãy cùng nhìn lại lịch sử và xem cách xã hội đã phát triển theo hướng bình đẳng hơn như thế nào.

    Ngày Quốc tế Phụ Nữ
    Ngày Quốc tế Phụ Nữ (8/3) đã thay đổi vai trò giới trong gia đình và xã hội ra sao?

    Lịch sử ra đời của Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3

    Ngày Quốc tế Phụ nữ bắt nguồn từ những phong trào đấu tranh của lao động nữ vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Vào ngày 8/3/1908, khoảng 15.000 phụ nữ đã diễu hành trên đường phố New York, yêu cầu quyền bầu cử, cải thiện điều kiện làm việc và tăng lương. Những tiếng nói này nhanh chóng lan rộng, và đến năm 1910, Hội nghị Phụ nữ Xã hội Chủ nghĩa Quốc tế tại Copenhagen (Đan Mạch) đã chính thức đề xuất một ngày đặc biệt để tôn vinh phụ nữ cũng như đấu tranh cho quyền lợi của họ. Hơn sáu thập kỷ sau, vào năm 1977, Liên Hợp Quốc công nhận ngày 8/3 là Ngày Quốc tế Phụ nữ, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong phong trào bình đẳng giới (Nguồn: UN Women).  

    Trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, phụ nữ bị hạn chế trong việc tiếp cận quyền bầu cử, giáo dục và cơ hội nghề nghiệp. Xã hội thời bấy giờ định hình vai trò của họ chủ yếu trong phạm vi gia đình, với công việc nội trợ và chăm sóc con cái. Hệ thống pháp luật cũng củng cố bất bình đẳng này qua việc hạn chế quyền sở hữu tài sản và quyền ký kết hợp đồng độc lập của phụ nữ.

    Giữa thế kỷ 20, chiến tranh thế giới đã tạo ra sự thay đổi lớn trong nhận thức về năng lực của phụ nữ. Khi nam giới ra mặt trận, phụ nữ đảm nhận vai trò sản xuất trong các nhà máy, chứng minh khả năng thích ứng và hiệu quả lao động của họ. Sự kiện này đã thúc đẩy yêu cầu về bình đẳng nghề nghiệp và tiền lương sau chiến tranh, mở đầu cho những thay đổi cơ bản trong cấu trúc việc làm. Giai đoạn những năm 1960-1980 chứng kiến sự bùng nổ của phong trào nữ quyền thế hệ thứ hai, khi phụ nữ tiếp tục đấu tranh không chỉ trong công việc mà còn trong đời sống cá nhân. Họ yêu cầu quyền kiểm soát sinh sản, bình đẳng trong gia đình và sự công nhận nhiều hơn từ xã hội.  

    Bước sang thế kỷ 21, vai trò của phụ nữ không ngừng mở rộng và phá vỡ nhiều định kiến. Họ ngày càng đảm nhiệm nhiều vị trí lãnh đạo trong chính trị và doanh nghiệp, với những cái tên tiêu biểu như Jacinda Ardern – cựu Thủ tướng New Zealand, Kamala Harris – Phó Tổng thống Mỹ, hay Nguyễn Thị Phương Thảo – nữ tỷ phú tự thân đầu tiên của Việt Nam, CEO Vietjet Air.

    Cùng với đó, phong trào #MeToo đã góp phần nâng cao nhận thức toàn cầu về bình đẳng giới và chống quấy rối tình dục, giúp phụ nữ có tiếng nói mạnh mẽ hơn. Không còn bị giới hạn trong các lĩnh vực truyền thống, phụ nữ ngày nay đang khẳng định mình trong các ngành STEM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học), thể thao và nghệ thuật. Những cái tên như Fei-Fei Li – nhà khoa học hàng đầu về trí tuệ nhân tạo, Serena Williams – huyền thoại quần vợt, hay Beyoncé – nghệ sĩ có sức ảnh hưởng lớn trong làng âm nhạc, cho thấy phụ nữ đang góp phần tạo nên một xã hội công bằng hơn cho tất cả mọi người.

    Sự thay đổi vai trò của đàn ông

    Khi phụ nữ bắt đầu đấu tranh cho quyền lợi của mình, từ quyền bầu cử, quyền lao động đến quyền kiểm soát cuộc sống cá nhân, những kỳ vọng đặt lên vai đàn ông cũng không còn giống như trước. Ngày càng nhiều nam giới tham gia vào vai trò nội trợ, chăm sóc con cái, thay vì xem đó là công việc của phụ nữ. Xu hướng “ông bố bỉm sữa” trở nên phổ biến hơn, với những tấm gương tiêu biểu như Mark Zuckerberg – nhà sáng lập Facebook, từng xin nghỉ phép để chăm con sơ sinh.  

    Không chỉ trong gia đình, đàn ông cũng mở rộng vai trò trong xã hội. Ngày càng nhiều nam giới làm việc trong các lĩnh vực từng được xem là “dành cho phụ nữ” như y tá, giáo viên mầm non hay chăm sóc sức khỏe. Đồng thời, quan niệm về “trụ cột kinh tế” cũng dần thay đổi khi nhiều gia đình có người vợ là lao động chính, còn người chồng đóng góp theo những cách khác, từ chăm con đến hỗ trợ sự nghiệp của vợ.  

    Ngày Quốc tế Phụ Nữ
    Ảnh minh họa

    Standard Chartered Việt Nam đã áp dụng chế độ nghỉ sinh công bằng, cho phép nhân viên nam nghỉ năm tháng hưởng nguyên lương khi vợ sinh con hoặc nhận con nuôi. Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ phụ nữ trong giai đoạn tiền mãn kinh cũng cho thấy cách doanh nghiệp đang tạo ra môi trường làm việc bình đẳng hơn.  

    Sự thay đổi trong vai trò của cả hai giới đã làm thay đổi cách vận hành của xã hội hiện đại. Nếu trước đây phụ nữ phải chịu áp lực gánh vác toàn bộ công việc nhà, thì ngày nay, nhiều cặp vợ chồng có xu hướng chia sẻ trách nhiệm nội trợ một cách công bằng hơn. Xã hội cũng dần chấp nhận rằng đàn ông có thể bộc lộ cảm xúc, thể hiện sự yếu đuối và tìm kiếm sự hỗ trợ về tâm lý mà không bị đánh giá. Những chuyển biến này góp phần xây dựng một xã hội linh hoạt hơn, nơi mỗi người có thể phát triển theo cách riêng, không bị ràng buộc bởi những định kiến giới đã tồn tại hàng thế kỷ.

    Chân Thực. 

  • TikToker Phạm Thoại kêu gọi quyên góp: Bài học về gây quỹ bền vững và truyền thông tạo tác động

    TikToker Phạm Thoại kêu gọi quyên góp: Bài học về gây quỹ bền vững và truyền thông tạo tác động

    Những ngày gần đây, vụ việc TikToker Phạm Thoại kêu gọi quyên góp hơn 16 tỷ đồng để hỗ trợ bé M.H (tên thường gọi là bé Bắp, sinh năm 2021) đã thu hút sự quan tâm lớn từ dư luận. 

    Phạm Thoại đã sử dụng ứng dụng công nghệ "Thiện nguyện" để gây quỹ, giúp minh bạch hóa các giao dịch bằng tính năng sao kê trực tuyến. Tuy nhiên, khi số tiền quyên góp vượt quá mục tiêu ban đầu, nhiều tranh cãi nổ ra về tính minh bạch của việc sử dụng số tiền này. Sự việc này là bài học quan trọng để làm sao một dự án, cá nhân có thể thực hành gây quỹ tránh những vấn đề rủi ro về uy tín và pháp lý.

    Phạm Thoại gây quỹ

    Khi một cá nhân hay dự án chuẩn bị triển khai hoạt động gây quỹ, có ba điều quan trọng nên cân nhắc:

    1. Niềm tin: Minh bạch tài chính trong gây quỹ

    Một trong những yếu tố quan trọng nhất của gây quỹ là xây dựng niềm tin thông qua sự minh bạch. Khi kêu gọi quyên góp, cần công khai rõ ràng tài khoản nhận tiền, số tiền nhận được, mục đích sử dụng và kết quả đầu ra.

    Sự minh bạch giúp người đóng góp cảm thấy yên tâm và tránh những tranh cãi không cần thiết về việc sử dụng nguồn quỹ sai mục đích. Việc công khai chi tiết dòng tiền, từ số tiền nhận được đến cách thức chi tiêu, giúp củng cố niềm tin của cộng đồng. Bên cạnh đó, việc sử dụng các nền tảng công nghệ hỗ trợ sao kê trực tuyến cũng là một giải pháp hữu ích, giúp người đóng góp dễ dàng theo dõi và giám sát.

    2. Bền vững: Hướng đến giải pháp dài hạn

    Gây quỹ không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ một cá nhân hay trường hợp cụ thể mà còn nên hướng đến các giải pháp lâu dài. Việc gây quỹ cho các trường hợp cá nhân là cần thiết khi người đó cần ngay sự giúp đỡ, nhưng cũng nên nghĩ thêm về cách hỗ trợ cá nhân đó một cách lâu dài. 

    Việc hỗ trợ một bệnh nhân hay một hoàn cảnh khó khăn có thể giúp họ vượt qua thời điểm khó khăn trước mắt, nhưng để tạo ra tác động bền vững, cần suy nghĩ đến những giải pháp. Điều này có thể bao gồm việc hợp tác với các tổ chức phi lợi nhuận, phát triển các mô hình hỗ trợ dài hạn như bảo hiểm y tế, quỹ giáo dục, hoặc chương trình đào tạo nghề cho những người trong hoàn cảnh khó khăn. Như vậy, sự giúp đỡ sẽ không chỉ dừng lại ở việc cung cấp tài chính mà còn tạo ra những thay đổi lâu dài cho người nhận.

    3. Truyền thông: Tránh khai thác lòng thương cảm, tập trung vào nâng cao nhận thức

    Thay vì chỉ khơi gợi lòng trắc ẩn, truyền thông nên tập trung vào việc nâng cao nhận thức cộng đồng về một vấn đề cụ thể. Một chiến dịch truyền thông hiệu quả không chỉ dừng ở việc kêu gọi quyên góp mà còn giúp cộng đồng hiểu rõ những thách thức thực tế, từ đó cùng tìm ra giải pháp bền vững. Việc cung cấp thông tin chính xác, khách quan cũng góp phần giảm bớt hiểu lầm và xây dựng niềm tin trong cộng đồng.

    Truyền thông đóng vai trò quan trọng trong gây quỹ nhưng cần được sử dụng một cách có trách nhiệm. Hiện nay, nhiều chiến dịch từ thiện thường dùng hình ảnh gây xúc động mạnh để thu hút sự quan tâm của cộng đồng. Tuy nhiên, nếu không kiểm soát tốt, điều này có thể dẫn đến sự mệt mỏi của công chúng trong tương lai. 

    Quy định pháp luật về gây quỹ tại Việt Nam cần biết

    Theo Nghị định 93/2021/NĐ-CP, cá nhân được phép kêu gọi và tiếp nhận tiền quyên góp từ thiện để hỗ trợ bệnh nhân hiểm nghèo hoặc đồng bào gặp khó khăn. Tuy nhiên, người kêu gọi cần công khai minh bạch số tiền tiếp nhận và sử dụng, đảm bảo đúng mục đích ban đầu. Nếu có nghi ngờ về tính minh bạch, cộng đồng có quyền đề nghị cơ quan chức năng xác minh.

    Nếu bạn quan tâm đến cách gây quỹ bền vững và sử dụng truyền thông tạo tác động hiệu quả, bạn có thể tham khảo các khóa học về hai chủ đề này của Dear Our Community. Các khóa học giúp cung cấp kiến thức về chiến lược gây quỹ chuyên nghiệp, truyền thông có trách nhiệm và cách áp dụng công nghệ để nâng cao uy tín chiến dịch gây quỹ.

    Chân Thực.

  • Hành trình xanh của thuỷ tinh: biến rác thải thành tài nguyên

    Hành trình xanh của thuỷ tinh: biến rác thải thành tài nguyên

    Nhóm dự án Amanaki đã dành hai tháng nghiên cứu vòng đời của sản phẩm thuỷ tinh, từ đó đưa ra phương pháp tái chế hiệu quả hơn, góp phần bảo vệ môi trường đồng thời hướng đến mô hình kinh tế tuần hoàn. 

    Bạn có sử dụng thuỷ tinh hằng ngày? Hay bạn thường chọn chai, lọ, đồ trang trí… thuỷ tinh vì nghĩ nó thân thiện môi trường? Đúng vậy, khả năng tái chế của thuỷ tinh là 100%. Tuy nhiên, bạn có biết rằng tại Việt Nam, tỷ lệ tái chế thuỷ tinh vẫn rất thấp, chỉ khoảng 10 – 15%, trong khi mỗi ngày có đến 2.560 tấn rác thải thuỷ tinh ra môi trường. Vậy bài toán này cần được giải quyết như thế nào? Đó là một trong những nguyên nhân ra đời “Hành trình xanh của thuỷ tinh: từ sản xuất đến tái sinh” – một trong những dự án gây ấn tượng tại chương trình Ươm mầm Phát triển Bền vững mùa 2 do Dear Our Community tổ chức. 

    Nhóm học viên nghiên cứu business case Amanaki trình bày kết quả tại buổi tổng kết.

    Xuyên suốt quá trình nghiên cứu case study này, nhóm bạn trẻ gồm: Ngọc Hân, Lê Hân và Nhật Minh đã bước đầu tìm ra những phương án có thể tăng tỷ lệ tái chế thuỷ tinh, giúp giải quyết phần nào số rác thải thuỷ tinh ra môi trường. Dẫn dắt nhóm là Kim Lê, chuyên gia mảng kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam; và anh Bùi Trung Đức, Giám đốc Điều hành của Amanaki – chuỗi khách sạn hướng đến Phát triển Bền vững tại TP. HCM.

    Thủy tinh: Vật liệu quen thuộc bị “bỏ quên” khi tái chế 

    Từ nguyên liệu thô như cát, đá vôi, soda…, trải qua quá trình chế tác tinh xảo, thuỷ tinh mang đến những sản phẩm có tính thẩm mỹ cao lẫn lợi ích thiết thực trong cuộc sống hàng ngày. Thế nhưng, ít ai thực sự hiểu về vòng đời của nó, đặc biệt là tầm quan trọng của tái chế thuỷ tinh với môi trường và xã hội. 

    Theo nghiên cứu của nhóm Amanaki, quá trình tái chế thuỷ tinh hơn 10 công đoạn, bắt đầu từ việc thu gom rác thải và phân loại. Thủy tinh được làm sạch, loại bỏ tạp chất, sau đó được nghiền thành cullet – nguyên liệu thô cho quá trình sản xuất thủy tinh mới. Lý tưởng là thế, nhưng mỗi ngày vẫn có 85 – 90% rác thải thuỷ tinh (tương đương 2.176 – 2.304 tấn) tại Việt Nam chưa được tái chế. Vậy nó sẽ đi đâu và vì sao?

    Mỗi ngày có đến 2.560 tấn rác thải thuỷ tinh ra môi trường.

    Tại Việt Nam, nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng này là từ hệ thống thu gom chưa hiệu quả, sự hạn chế trong nhận thức của người dân và thiếu chính sách hỗ trợ. Điều này dẫn đến lãng phí tài nguyên, tăng lượng khí CO2 thải ra và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Từ đó, nhóm Amanaki đưa ra 3 giải pháp cấp bách, bao gồm: Nâng cao nhận thức cộng đồng về tái chế; hoàn thiện hệ thống thu gom và phân loại rác; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào tái chế. 

    Tái chế thuỷ tinh – sự tái sinh kỳ diệu 

    Vậy, nếu 100% thuỷ tinh sản xuất mỗi ngày ở Việt Nam đều là thuỷ tinh tái chế thì sẽ ra sao? Tiết kiệm tài nguyên như: giảm khai thác cát, đá vôi, soda – những nguyên liệu quan trọng trong sản xuất thuỷ tinh chính là điều đầu tiên có thể nhận thấy rõ. Mỗi tấn thuỷ tinh tái chế có thể tiết kiệm 1.305 tấn cát, 435 tấn đá vôi, 435 tấn soda. Bên cạnh đó, quy trình tái chế ít sử dụng năng lượng hơn so với sản xuất mới, giúp giảm khoảng 348 tấn khí thải CO2 mỗi ngày. Những con số biết nói này là minh chứng rõ ràng nhất cho sự kỳ diệu của thuỷ tinh tái chế, góp phần giảm thiểu biến đổi khí hậu.

    Thủy tinh tái chế có thể ứng dụng vào nhiều khía cạnh cuộc sống.

    Tỷ lệ tái chế thủy tinh “khủng” ở châu Âu: Phép màu hay chiến lược?

    Đương nhiên, không có “phép màu” nào, dù tỷ lệ tái chế thuỷ tinh ở châu Âu đạt 70 – 80% – một con số đáng mơ ước. Theo nghiên cứu của nhóm Amanaki, chiến lược bài bản và công nghệ tiên tiến chính là chiếc chìa khoá bí ẩn. Nhóm đã tổng hợp 6 giải pháp, bao gồm:

    1. Nghiền cát – biến chai lọ thành cát nhân tạo

    Công ty DB Breweries và Alex Fraser Group đã triển khai công nghệ nghiền chai thủy tinh thành cát nhân tạo, thay thế cát tự nhiên trong xây dựng và bảo vệ môi trường. Ứng dụng này giúp giảm khai thác cát tự nhiên và tận dụng thủy tinh không thể tái sử dụng.

    2. Nghiền pulping – chế tạo bột thuỷ tinh mịn

    Thủy tinh được nghiền thành bột mịn (0.1 – 0.5mm) bằng máy nghiền bi hoặc ly tâm, kết hợp hệ thống lọc nước để tránh bụi. Bột này được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất gốm sứ, sơn và vật liệu xây dựng.

    3. Phân loại quan học – tách thuỷ tinh chính xác 

    Công nghệ này sử dụng tia hồng ngoại để nhận diện màu sắc và tia cực tím để phát hiện tạp chất, giúp phân loại thủy tinh nhanh chóng và hiệu quả hơn so với phương pháp thủ công.

    4. Thủy tinh bọt – vật liệu cách nhiệt tương lai

    Thủy tinh tái chế được nghiền, trộn với tác nhân tạo khí, nung ở 800-900°C để tạo ra thủy tinh bọt – một vật liệu nhẹ, cách nhiệt tốt, ứng dụng trong xây dựng và trang trí nội thất.

    5. Tái chế bằng vi sóng – giải pháp tiết kiệm năng lượng 

    Công nghệ vi sóng làm nóng chảy thủy tinh từ bên trong, giúp giảm 20% năng lượng tiêu thụ và rút ngắn thời gian xử lý đến 50% so với lò nung truyền thống.

    6. In 3D thuỷ tinh – tương lai của sản xuất

    Công nghệ Direct Glass Laser Deposition (DGLD) của Nobula3D sử dụng laser để in 3D thủy tinh với độ chính xác cao, tạo ra kính hiển vi, thiết bị y tế và các sản phẩm phức tạp khác.

    Nhờ những công nghệ này, châu Âu tái chế hiệu quả, giảm rác thải và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Thêm vào đó, để đạt được sự phát triển bền vững, tái chế thủy tinh cần được đẩy mạnh theo hướng mô hình kinh tế tuần hoàn, tức là tái chế liên tục và hiệu quả để tận dụng tối đa giá trị của thủy tinh. Việc đầu tư vào nghiên cứu và phát triển công nghệ mới cũng quan trọng không kém. 

    Song song đó, không thể bỏ qua vai trò chủ chốt của con người trong hành trình này. Ngoài nâng cao nhận thức, liên tục khuyến khích cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường thông qua các chương trình giáo dục, thì sự hợp tác và chia sẻ nhằm thúc đẩy hợp tác quốc tế, cải thiện hệ thống tái chế rất cần thiết. 

    Chị Kelly Võ, founder của DOC, trao kỷ niệm chương cho anh Bùi Trung Đức (đại diện Amanaki) cùng chị Emily Nguyễn (đại diện De Heus) tại buổi tổng kết chương trình Ươm mầm Phát triển Bền vững mùa 2

    Bên cạnh đưa ra những giải pháp, dự án “Hành trình xanh của thuỷ tinh” kêu gọi sự chung tay của mọi người bằng những hành động đơn giản nhưng ý nghĩa như: tái chế thủy tinh đúng cách bằng cách phân loại và đưa thủy tinh đến các điểm thu gom; chia sẻ kiến thức về tái chế thủy tinh với cộng đồng; hay tham gia các hoạt động của dự án thu gom, sáng tạo sản phẩm từ thủy tinh tái chế…

    Trà Trà

    Chương trình Ươm mầm Phát triển bền vững mùa 3 đã quay trở lại. 

    Chương Trình Ươm Mầm Phát Triển Bền Vững dành cho người trẻ muốn theo đuổi công việc trong lĩnh vực phát triển bền vững tại Việt Nam. Mục tiêu cung cấp kiến thức, kỹ năng và cơ hội trải nghiệm về Phát Triển Bền Vững cho những bạn trẻ mong muốn dấn thân vào lĩnh vực này.

    Liên hệ để đăng ký tham gia hoặc cung cấp business case: https://www.dearourcommunity.com/lien-he 

  • Mô hình ‘chăm sóc toàn diện’ góp phần tạo sự bền vững trong y tế

    Mô hình ‘chăm sóc toàn diện’ góp phần tạo sự bền vững trong y tế

    Dear Our Community (DOC) là đối tác truyền thông chiến lược và gây quỹ cho dự án mang tên “Đồng hành cùng nỗi lo chạy thận – Mô hình chăm sóc toàn diện” được triển khai tại bệnh viện Lê Văn Thịnh và đơn vị Thận nhân tạo tại Trung tâm Y tế huyện Cần Giờ, TP. HCM.

    Người ta thường nói “mỗi người một số phận”. Nhưng với những bệnh nhân chạy thận nhân tạo, dường như số phận đã an bài cho họ một cuộc “trường chinh” cả đời với chiếc máy lọc máu. Mỗi tuần, họ đều đặn đến bệnh viện, ít nhất ba lần, mỗi lần hơn ba tiếng đồng hồ, lặng lẽ nằm cạnh chiếc máy lọc máu. Đôi lúc, các điều dưỡng mở một bản nhạc nhẹ cho không khí thoải mái hơn. Thời gian nằm trên giường bệnh, để đỡ chán hay bớt sự chú ý vào chiếc máy lọc máu cứ xoay tròn bên cạnh, họ mang theo điện thoại, sách… giải trí. Thỉnh thoảng trò chuyện với nhau và những con người cùng chung cảnh ngộ dần trở nên thân thiết. “Lâu dần, không đi lọc máu là tôi cảm thấy thiếu thiếu gì đó”, Cô P, một bệnh nhân hơn 50 tuổi, lạc quan như thể chiếc máy lọc máu đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của cô.

    Mô hình ‘chăm sóc toàn diện’

    Bệnh nhân chờ vào lọc máu tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh. Ảnh: Dear Our Community

    Cô kể trước khi được lọc máu, cơ thể rất mệt mỏi và thường xuyên phải cấp cứu. “Hồi đó tôi sợ nên không nghe lời bác sĩ đi lọc máu sớm. Cho đến khi chịu không nổi nữa, tôi mới bắt đầu lọc máu và cuộc đời tôi như sang trang. Dù không còn được đi du lịch dài ngày do phải lọc máu định kỳ, nhưng ăn uống ngủ nghỉ được như người bình thường là mừng rồi”, cô nói thêm.

    Chạy thận là phương pháp lọc máu bên ngoài cơ thể bằng máy, được chỉ định điều trị người bệnh suy thận giai đoạn cuối hoặc suy thận cấp (thường do ngộ độc) diễn tiến nhanh hoặc toan máu, tăng kali máu, dư nước nhưng không đáp ứng với thuốc điều trị. Phương pháp này giúp cơ thể kiểm soát huyết áp và duy trì sự cân bằng chất lỏng và khoáng chất khác nhau như natri, kali trong cơ thể. Quá trình chạy thận bắt đầu tốt nhất là trước khi thận ngừng hoạt động và gây ra biến chứng đe dọa tính mạng.

    Ở khoa thận tại bệnh viện Lê Văn Thịnh, những trường hợp mắc bệnh thận mạn tính không phải hiếm. “Từ ngày chạy thận, tôi gần như mất tất cả…” – là lời tâm sự nghẹn ngào của anh N, sinh năm 1987, người đã kiên cường bước trên con đường lọc máu định kỳ suốt 12 năm. Cứ mỗi tuần ba lần, khoa Thận của bệnh viện Lê Văn Thịnh, TP. HCM lại đón anh như một người thân quen. Và chỉ một buổi sáng ở đây, hàng chục người ra vào. Họ đều mang những căn bệnh nặng nhưng tâm trạng rất bình thản chỉ vì đã quá quen với khung cảnh này. Họ đứng xếp hàng phía trước, khoác chiếc áo bệnh nhân rồi nằm lên một chiếc giường được chỉ định, cánh tay chi chít những vết kim, nối với chiếc máy chạy thận. 

    Mô hình ‘chăm sóc toàn diện’

    Phòng lọc máu tại khoa Thận, bệnh viện Lê Văn Thịnh. Ảnh: Dear Our Community.

    Theo Hội Thận học thế giới ước tính, khoảng 850 triệu người mắc bệnh mạn tính ở thận, khoảng 3 triệu người bệnh đang phải duy trì sự sống nhờ lọc máu. Tại Việt Nam chưa có số liệu thống kê chính thức, song ước tính khoảng 5 triệu người bệnh suy thận, hàng năm có khoảng 8.000 ca bệnh mới. Vì thế, việc cung cấp đủ máy lọc máu tại các bệnh viện sẽ giúp cuộc sống của các bệnh nhận thuận tiện hơn rất nhiều. Do vậy, mô hình chăm sóc toàn diện do bệnh viện Lê Văn Thịnh và ASIF Foundation (Quỹ thiện nguyện Quốc tế của người Việt) kết hợp triển khai nhằm giải quyết tất cả khó khăn mà bệnh nhân chạy thận đang “sống chung” mỗi ngày. Đây có thể được xem là bước tiến quan trọng trong việc chăm sóc bệnh nhân mạn tính, đặc biệt là bệnh nhân chạy thận nhân tạo. Bên cạnh đó, Dear Our Community (DOC) chính là đối tác truyền thông chiến lược và gây quỹ cho dự án mang tên “Đồng hành cùng nỗi lo chạy thận – Mô hình chăm sóc toàn diện”. 

    Mô hình ‘chăm sóc toàn diện’

    Team Dear Our Community tại một buổi quay hình cho series Mở Đường Dẫn Lối mùa 2

    Với vai trò là cầu nối, DOC kết nối cộng đồng, các nhà hảo tâm và các doanh nghiệp với những bệnh nhân đang gặp khó khăn. Bằng những hoạt động truyền thông sáng tạo và hiệu quả, DOC lan tỏa thông điệp về dự án, kêu gọi sự quan tâm và ủng hộ từ cộng đồng.

    Hiện, “Đồng hành cùng nỗi lo chạy thận – Mô hình chăm sóc toàn diện” được tiến hành tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh và đơn vị Thận nhân tạo tại Trung tâm Y tế huyện Cần Giờ (TP. HCM). Trong giai đoạn khởi động, bệnh viện Lê Văn Thịnh sẽ phối hợp cùng bộ môn Y Đức – Xã hội học – Chăm sóc giảm nhẹ, Đại học Y Dược TP. HCM tổ chức khóa đào tạo nhằm trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết dành cho nhân viên y tế trong quá trình thực hiện các hoạt động chăm sóc liên ngành. Khóa học được đào tạo trực tiếp và trực tuyến từ ngày 23/7 đến ngày 31/8. Hiện đây là khóa học đầu tiên và duy nhất về vấn đề chăm sóc liên ngành trong bệnh mạn tính tại TP. HCM. 

    Bà Tuyền nhận xét dự án không chỉ mang lại lợi ích cho bệnh nhân, mà còn thể hiện tính bền vững, lâu dài qua những đóng góp nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại Việt Nam. 

    Nếu doanh nghiệp bạn quan tâm tìm hiểu thêm về dự án, vui lòng liên hệ với chúng tôi tại địa chỉ email hello@dearourcommunity.com 

    Dear Our Community:

    Ra mắt công chúng vào năm 2020, Dear Our Community chuyên cung cấp dịch vụ truyền thông sáng tạo và trải nghiệm học tập về phát triển bền vững cho các công ty, tổ chức và giới trẻ tại Việt Nam. Với chuyên môn về truyền thông sáng tạo, mạng lưới đối tác sâu rộng, hiểu biết đa ngành, kinh nghiệm xây dựng cộng đồng và nâng cao năng lực, Dear Our Community giúp các doanh nghiệp, tổ chức và chuyên gia truyền thông hiệu quả và đầu tư vào thế hệ trẻ quan tâm về phát triển bền vững. 

    Bệnh viện Lê Văn Thịnh:

    Bệnh viện Lê Văn Thịnh (trước đây là Bệnh viện Quận 2) là một bệnh viện đa khoa hạng 3, được thành lập và đi vào hoạt động từ tháng 02 năm 2007 với quy mô ban đâu chỉ 60 giường bệnh, thực hiện công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn TP. HCM và các vùng lân cận. 

    Sau 15 năm hoạt động và phát triển, bệnh viện đã có sự "lột xác" nhanh chóng, phát triển toàn diện về quy mô, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực và chất lượng khám chữa bệnh. Nhiều kỹ thuật y khoa phức tạp đã được thực hiện ngay tại bệnh viện giúp người dân tiết kiệm chi phí khám chữa bệnh và giảm tải áp lực cho các bệnh viện tuyến trên. Với sự nỗ lực phấn đấu không ngừng, bệnh viện Lê Văn Thịnh được UBND TP. HCM xếp hạng là một Bệnh viện đa khoa hạng 1 vào năm 2020.

    Australasia Social Impact Foundation (ASIF Foundation): 

    Là tổ chức phi lợi nhuận được thành lập vào ngày 14/12/2018 tại Australia, hoạt động tại Việt Nam từ năm 2020. Với vai trò là “Quỹ thiện nguyện quốc tế của người Việt”, thông qua những chương trình phát triển cộng đồng và dự án xã hội, ASIF Foundation kết nối hiệu quả các nguồn lực với mong muốn thúc đẩy những cải tiến, góp phần vào tiến trình phát triển bền vững trong các lĩnh vực: y tế và chăm sóc sức khỏe; giáo dục; nước sạch và vệ sinh nhằm cải thiện  chất lượng cuộc sống của cộng đồng yếu thế. 

    Trong hành trình 5 năm hoạt động (2018-2023), ASIF Foundation đã thực hiện 32 dự án với hơn 503.000 người thụ hưởng trực tiếp và gián tiếp. Một số dự án nổi bật tại Việt Nam như (1) “Giếng Sạch trao buôn” và “Gùi nước về làng” trao tặng 319 giếng khoan cộng đồng và 32.144 Gùi nước cho bà con tại 02 tỉnh Gia Lai và Kon Tum; (2) Trao tặng máy X-quang kỹ thuật số thế hệ mới tích hợp phần mềm chẩn đoán AI cho Trạm Y tế xã đảo Thạnh An, huyện Cần Giờ, TP. HCM và Phòng Khám Kinh 7 tỉnh Kiên Giang; (3) Hỗ trợ nâng cao năng lực cho 05 cơ sở bảo trợ xã hội và tổ chức phi lợi nhuận trong các lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe, giáo dục hướng đến các cộng đồng người cao tuổi, trẻ em và người có hoàn cảnh khó khăn.

    ASIF Foundation hướng đến một xã hội phát triển bền vững, nơi những cộng đồng yếu thế được thụ hưởng một cuộc sống tốt đẹp, được trao những cơ hội công bằng để phát triển thông qua việc các nguồn lực xã hội được vận hành và hợp tác một cách hiệu quả.

  • AI tạo thói quen ‘shopping online’ quá lố

    AI tạo thói quen ‘shopping online’ quá lố

    Công nghệ có thể thao túng thói quen mua sắm dẫn đến tiêu dùng quá mức và môi trường kiệt quệ. Liệu chúng ta có thể thay đổi và hướng đến tiêu dùng bền vững?

    Các nền tảng mua sắm trực tuyến hiện được thiết kế để tối ưu hóa sự tiện lợi, với những tính năng như thanh toán chỉ bằng một cú nhấp chuột và giao hàng siêu tốc. Tuy nhiên, sự tiện lợi này không chỉ nhằm phục vụ người tiêu dùng mà còn là công cụ thúc đẩy chi tiêu. 

    Mới đây, phim tài liệu Buy Now: The Shopping Conspiracy “gây sốt” vì phơi bày cách các thương hiệu lớn bán hàng thời đại số. Trong đó không thể không kể đến AI – công cụ đắc lực cho các nhãn hàng. 

    tiêu dùng bền vững

    Nguồn: Netflix 

    Hãy nghĩ về việc khi bạn lướt mạng xã hội: các gợi ý mua sắm cá nhân hóa xuất hiện, được thiết kế dựa trên lịch sử mua hàng hoặc tìm kiếm trước đó của bạn. Các quảng cáo này bám theo bạn, lan tỏa đến cả những người thân hoặc bạn bè của bạn, tạo ra một vòng xoáy tiêu dùng không hồi kết. Sự kết hợp giữa quảng cáo mục tiêu và sự tiện lợi thúc đẩy hành vi mua sắm bốc đồng, khiến người tiêu dùng chi tiêu vào những món đồ không thật sự cần thiết. Dù điều này giúp các công ty tăng lợi nhuận, nó lại dẫn đến một hệ quả nghiêm trọng: tiêu dùng quá mức

    Bằng việc dự đoán nhu cầu của người tiêu dùng, AI thúc đẩy các thương hiệu sản xuất quá mức. Những sản phẩm này nhanh chóng bị lỗi mốt, dẫn đến lượng rác thải khổng lồ, tích tụ tại các bãi rác và làm trầm trọng thêm vấn đề ô nhiễm. Thêm vào đó, từ việc khai thác nguyên liệu đến nhuộm vải, mỗi chiếc áo hay chiếc quần đều tiêu thụ nguồn tài nguyên tự nhiên một cách không bền vững, gây tổn hại nghiêm trọng đến hệ sinh thái.

    Vậy làm thế nào để chúng ta, đặc biệt là thế hệ trẻ, có thể giảm áp lực mà thời trang nhanh đặt lên hành tinh?

    Mua sắm có trách nhiệm hơn: Hãy bắt đầu từ những quyết định nhỏ. Trước khi thêm một món đồ vào giỏ hàng, bạn hãy tự hỏi bản thân liệu bạn có thật sự cần nó? Tìm kiếm những lựa chọn thay thế như đồ second-hand hoặc các sản phẩm tái chế. Những thương hiệu cam kết phát triển bền vững mang lại giá trị về mặt môi trường và giúp bạn góp phần vào xu hướng tiêu dùng có ý thức.

    Ưu tiên chất lượng thay vì số lượng: Việc chạy theo các xu hướng thời trang có thể khiến bạn lãng phí tiền bạc lẫn tài nguyên thời gian, sức khỏe, tinh thần… Hãy đầu tư vào những món đồ chất lượng cao, bền vững, có thể sử dụng lâu dài. Một chiếc áo tốt, bền hơn, bạn có thể mặc nó nhiều lần mà không sợ lỗi mốt. 

    Lan tỏa nhận thức: Những cuộc trò chuyện trong cộng đồng, với bạn bè và gia đình, có thể là khởi đầu cho sự thay đổi lớn. Việc chia sẻ thông tin về tác động tiêu cực của tiêu dùng quá mức sẽ giúp nâng cao nhận thức và thúc đẩy sự tham gia vào các giải pháp bền vững.

    Hỗ trợ những thương hiệu có trách nhiệm: Hãy lựa chọn các thương hiệu công khai minh bạch về sản xuất và cam kết bảo vệ môi trường. Sự ủng hộ của bạn là thông điệp mạnh mẽ gửi đến các doanh nghiệp rằng người tiêu dùng mong muốn một tương lai bền vững.

    Mỗi quyết định mua sắm đều là một hành động có ý nghĩa. Thế hệ trẻ ngày nay không chỉ đơn thuần là người tiêu dùng, mà còn là những người định hình tương lai. Hãy để những lựa chọn của bạn trở thành bước đi nhỏ nhưng bền vững, giúp giảm áp lực lên hành tinh. Bạn sẵn sàng bắt đầu chưa?

  • Re-think CSR #31: Truyền thông tạo tác động xã hội – “Thương hiệu đừng đứng ở vị trí trung tâm”

    Re-think CSR #31: Truyền thông tạo tác động xã hội – “Thương hiệu đừng đứng ở vị trí trung tâm”

    Đôi lúc, nếu chỉ dựa vào ý chí chủ quan, một chiến dịch truyền thông tạo tác động xã hội với ý định tốt đẹp ban đầu có thể nhận lại hàng loạt ý kiến trái chiều, bởi “we don’t know what we don’t know”. Thực tế, thương hiệu không thể tạo tác động lên cộng đồng, nếu không hiểu cộng đồng.

    Brands Vietnam đã có buổi trò chuyện với chị Võ Ngọc Tuyền (Kelly) – Nhà sáng lập kiêm Giám đốc Điều hành của Dear Our Community – để cùng đi tìm câu trả lời cho một vấn đề tưởng chừng đã quen thuộc nhưng thực tế vẫn còn nhiều cách hiểu sai: Làm thế nào để một chiến dịch truyền thông tạo tác động xã hội thật sự có “tác động” và không đi xa khỏi mục tiêu ban đầu?

    “Re-think CSR” là series do Brands Vietnam thực hiện, phỏng vấn các chuyên gia đến từ nhiều ngành hàng và quy mô doanh nghiệp khác nhau, chia sẻ về quan điểm, chiến lược, thực thi và kết quả thực tế có được từ hoạt động CSR của chính những doanh nghiệp tham gia chuyên mục. Từ đó, cung cấp những ý tưởng và cách tiếp cận đa dạng đối với một vấn đề tưởng chừng quen thuộc nhưng vẫn còn khá xa lạ tại thị trường Việt Nam.

    * Trước hết, chị Kelly có thể chia sẻ về vai trò của truyền thông tạo tác động xã hội trong các doanh nghiệp có bộ phận chuyên trách về CSR?

    Trước khi làm việc tại Dear Our Community (DOC), tôi từng gắn bó với một tổ chức phi lợi nhuận. Trong quá trình làm việc, tôi nhận thấy một điều thú vị: nhiều nhân sự phụ trách CSR ở các doanh nghiệp thường đến từ các bộ phận marketing hoặc branding.

    Khi tìm hiểu sâu hơn, tôi nhận ra lý do là vì thời điểm đó, các doanh nghiệp thường xem trách nhiệm xã hội là hoạt động thiện nguyện, cũng tức là một phần trong chiến lược xây dựng thương hiệu. Chính vì vậy, những người làm marketing và branding – người hiểu rõ cách tạo dựng hình ảnh và truyền tải thông điệp sẽ được tin tưởng giao nhiệm vụ này.

    Trong các buổi trò chuyện với nhân sự phụ trách CSR, tôi cũng nhận thấy họ thực hiện rất nhiều công việc liên quan đến xây dựng hình ảnh và chiến lược truyền thông. Điều này phản ánh cách các doanh nghiệp trước đây nhìn về CSR sẽ ở góc độ marketing và branding.

    Truyền thông tạo tác động xã hội

    Chị Võ Ngọc Tuyền (Kelly) – Nhà sáng lập kiêm Giám đốc Điều hành của doanh nghiệp tạo tác động xã hội Dear Our Community.

    * Đó là vấn đề của 5 năm trước, vậy hiện tại, góc nhìn của các doanh nghiệp về CSR đã có sự thay đổi ra sao?

    Trong khoảng 5 năm qua, cách nhìn nhận của các doanh nghiệp tại Việt Nam về CSR đã có nhiều thay đổi. Nếu trước đây, CSR được nhìn ở góc độ hoạt động marketing và xây dựng thương hiệu thì hiện tại, nhiều doanh nghiệp dần hiểu rằng CSR không chỉ đơn thuần là “làm đẹp” hình ảnh.

    Thực tế, một trong những thách thức lớn mà doanh nghiệp đối mặt hiện nay là làm thế nào để liên kết các hoạt động CSR với mục tiêu kinh doanh. Nếu chỉ dừng lại ở việc thực hiện trách nhiệm cộng đồng, điều đó dĩ nhiên rất tốt. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với áp lực lợi nhuận và hiệu quả đầu tư. Do đó, bài toán đặt ra là: Làm thế nào để các hoạt động CSR vừa tạo ra tác động tích cực cho cộng đồng, vừa có sự kết nối với các mục tiêu kinh doanh?

    Tôi thường chia sẻ với các doanh nghiệp rằng CSR không nên chỉ được nhìn nhận như một hoạt động cộng đồng thuần túy là làm từ thiện, mà phải được thiết kế để tạo ra những tác động thực sự, không chỉ cho xã hội mà còn cho chính doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp có thể đo lường được những lợi ích này, họ mới tự tin đầu tư hơn vào các hoạt động CSR. Đây cũng chính là điểm khác biệt giữa cách làm CSR cũ và cách tiếp cận phát triển bền vững hiện nay.

    CSR cần được xây dựng với tư duy dài hạn, nhưng dài hạn không có nghĩa là lặp đi lặp lại một chương trình cố định.

    Một sự chuyển biến rõ nét là việc nhiều doanh nghiệp bắt đầu nhận ra rằng phát triển bền vững không chỉ là một mục tiêu, mà còn là triết lý cốt lõi – hay có thể gọi là “DNA” của doanh nghiệp. Trong đó, CSR đóng vai trò như một công cụ thực hành để thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp với cộng đồng, đặc biệt trong bối cảnh hoạt động tại thị trường Việt Nam.

    Tuy vậy, không phải doanh nghiệp nào cũng sẵn sàng tách bạch phát triển bền vững thành một bộ phận riêng biệt. Các tập đoàn lớn thường có đủ nguồn lực để xây dựng hẳn một đội ngũ chuyên trách về phát triển bền vững. Ngược lại, với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, CSR vẫn đang dừng lại ở các hoạt động cơ bản.

    * Để hiện thực hóa những mục tiêu đó, phải chăng làm CSR là câu chuyện của tầm nhìn dài hạn?

    Tôi đồng ý rằng CSR cần được xây dựng với tư duy dài hạn. Tuy nhiên, dài hạn không có nghĩa là lặp đi lặp lại một chương trình cố định. Nếu chỉ tiếp cận CSR với mục tiêu “hoàn thành trách nhiệm” rồi thôi, doanh nghiệp sẽ có cách tiếp cận khác. Ngược lại, nếu hướng đến việc tạo ra thay đổi thực sự, cách tiếp cận sẽ hoàn toàn khác.

    Thực tế, việc giải quyết các vấn đề xã hội rất phức tạp và luôn biến đổi. Vì vậy, CSR không phải là một kế hoạch cố định mà là một hành trình học hỏi và thích ứng. Khi doanh nghiệp bắt đầu một chương trình CSR, có thể ý tưởng ban đầu rất cụ thể như xây thư viện hay trao học bổng. Nhưng trong quá trình thực hiện, nhu cầu thực tế của cộng đồng có thể thay đổi. Việc linh hoạt điều chỉnh để đáp ứng đúng nhu cầu là điều cần thiết.

    Tôi luôn tin rằng chúng ta không nên giải quyết những vấn đề không có thật. Nếu cộng đồng không cần thứ mình đang cung cấp, hãy sẵn sàng thay đổi để mang lại giá trị thực sự.

    Trong quá trình hợp tác, doanh nghiệp và các tổ chức đối tác có thể cùng xây dựng một bức tranh tổng thể với các mục tiêu cụ thể trong 1 năm, 3 năm, hay 5 năm. Và với tư duy học hỏi, doanh nghiệp khi hợp tác cùng các tổ chức phi lợi nhuận, doanh nghiệp xã hội hoặc các tổ chức cộng đồng nên tiếp cận bằng thái độ cởi mở: “Đây là điều chúng tôi muốn làm, chúng tôi muốn đồng hành lâu dài, nhưng chúng tôi cũng sẵn sàng thay đổi nếu cần”. Chính tư duy đó sẽ mở ra nhiều cơ hội để cả hai bên cùng thích nghi và đáp ứng nhu cầu thực tế của cộng đồng.

    Truyền thông tạo tác động xã hội

    Trên thực tế, CSR không phải là một kế hoạch cố định mà là một hành trình học hỏi và thích ứng. (Nguồn: Getty Images)

    * Khi thực hiện chiến dịch trong một thời gian dài như thế, làm thế nào để có thể đo lường hiệu quả của các hoạt động truyền thông tạo tác động xã hội giữa các bên liên quan, thưa chị?

    Theo tôi, trước khi dùng bất kỳ công cụ nào, điều quan trọng nhất là phải xác định rõ mục tiêu tác động. Công cụ chỉ là công cụ – điều cốt lõi nằm ở việc doanh nghiệp cần phải xác định được mình muốn tạo ra tác động gì, từ đó mới xác định chỉ số (metrics) đo lường phù hợp.

    Có những doanh nghiệp muốn đo lường các chỉ số thảo luận, nhắc đến thương hiệu trên mạng xã hội thông qua công cụ social listening, mức độ tin cậy thương hiệu (brand trust), hay giá trị thương hiệu (brand value). Cũng có những doanh nghiệp muốn có thể đo lường cả tác động thực tế lên cộng đồng mà họ hỗ trợ, những sự thay đổi trong ngắn hạn và dài hạn.

    Thực tế, đa số vẫn dừng lại ở các chỉ số liên quan đến thương hiệu như mức độ tương tác (engagement) vì dễ đo lường hơn. Nhưng với CSR, nếu chỉ tập trung vào thương hiệu mà không đo lường được tác động xã hội thì vẫn chưa thực sự đầy đủ.

    Một trong những công cụ quan trọng trong ngành là stakeholder mapping (phân tích các bên liên quan). Chẳng hạn, nếu một doanh nghiệp thực hiện chiến dịch giáo dục trẻ em, họ cần nghiên cứu và phân tích: Hiện có những ai đang hoạt động trong lĩnh vực này? Các tổ chức phi lợi nhuận, chuyên gia, hay doanh nghiệp khác đang làm gì? Từ đó, doanh nghiệp có thể tìm cách đóng góp vào góc độ mà họ làm tốt hơn hoặc bổ sung được cho các hoạt động hiện có. Phân tích này không chỉ giúp doanh nghiệp hiểu rõ đối tác tiềm năng mà còn xác định cách tối ưu hóa nguồn lực – điều đặc biệt quan trọng với những doanh nghiệp có hạn chế về tài chính hoặc nhân sự.

    Doanh nghiệp phải làm việc với các tổ chức phi lợi nhuận, các chuyên gia, những bên có chuyên môn liên quan và cùng nhìn ở bức tranh chung. Hãy hình dung đơn giản, nếu doanh nghiệp muốn giúp trẻ em và tổ chức phi lợi nhuận cũng làm việc vì trẻ em, thì cả hai nên tập trung vào mục tiêu chung – cải thiện cuộc sống của trẻ em. Từ mục tiêu chung này, họ có thể xây dựng các giải pháp để thu hẹp khác biệt và đạt được hiệu quả tốt nhất.

    * Trong Community Oriented Marketing có một dạng tiếp thị là nhãn hàng sẽ đồng hành cùng các chương trình xã hội để thể hiện trách nhiệm CSR. Theo chị Kelly, làm thế nào để doanh nghiệp có thể thực hiện những chiến lược hướng tới cộng đồng hiệu quả và tự nhiên, không bị nói là… “làm màu”?

    Hiện nay, thế hệ trẻ tiêu thụ nội dung theo cách rất khác. Chỉ cần “ngửi thấy” chút hơi hướng quảng cáo, họ sẵn sàng bỏ qua ngay. Điều này buộc các doanh nghiệp phải suy nghĩ lại về cách tiếp cận, đặc biệt khi muốn truyền thông một cách hiệu quả mà không gây ra phản ứng trái chiều.

    Một hướng đi bền vững hơn là tập trung kể câu chuyện về những tác động mà doanh nghiệp đang tạo ra cho xã hội, thay vì chỉ nói quá nhiều về chính mình. Người tiêu dùng ngày nay, đặc biệt là giới trẻ, rất quan tâm đến cách doanh nghiệp ứng xử với cộng đồng xung quanh. Thay vì đầu tư vào một video quảng cáo thuần túy để giới thiệu doanh nghiệp, tại sao không chia sẻ những sáng kiến thương hiệu đang làm góp phần tạo tác động xã hội?

    Hãy cân nhắc đến việc đầu tư ngân sách cho một tổ chức, một dự án hay một chương trình có giá trị về mặt xã hội mà doanh nghiệp cũng tin tưởng. Sau đó, kể lại câu chuyện về dự án này bằng cách hiệu quả nhất. Khi những tác động tích cực của dự án được chứng minh, câu chuyện sẽ trở nên tự nhiên và giàu sức hút hơn rất nhiều.

    Quan trọng hơn hết, hãy đặt những người trong cộng đồng, những đối tượng mà doanh nghiệp đang hỗ trợ vào trung tâm câu chuyện. Để họ kể về những thay đổi mà họ trải qua, đứng đằng sau là một thương hiệu đang giúp cộng đồng đó phát triển. Rõ ràng, đây là cách truyền tải thông điệp hoàn toàn khác và chứng minh được rằng doanh nghiệp thực sự cam kết với các giá trị xã hội, chứ không đơn thuần chỉ tập trung vào xây dựng hình ảnh.

    Một ví dụ điển hình là chiến dịch của Dove. Thay vì chỉ quảng bá sản phẩm chăm sóc sắc đẹp, Dove chọn cách kể về các vấn đề xã hội liên quan đến sự tự tin và giá trị bản thân. Họ không chỉ gửi đi những thông điệp rõ ràng mà còn tạo ra các tác động thực sự. Làm thương hiệu ngày nay đòi hỏi sự tinh tế, khéo léo và phải tạo ra được những tác động tích cực song song.

    Truyền thông tạo tác động xã hội

    Thay vì chỉ quảng bá sản phẩm chăm sóc sắc đẹp, Dove chọn cách kể về các vấn đề xã hội liên quan đến sự tự tin và giá trị bản thân. (Nguồn: Campaign Brief)

    * Chị Kelly nghĩ thế nào về việc truyền thông đánh vào lòng thương cảm, “bi kịch hóa” một tình cảnh (Poverty Porn) nhằm tăng tỷ suất theo dõi và lấy nước mắt của người xem?

    Vấn đề này rất nhức nhối. Theo tôi, một nguyên tắc cơ bản cần tuân thủ là: “Nếu bạn không muốn người khác làm điều đó với mình, đừng làm điều tương tự với họ”.

    Khi thực hiện các chiến dịch hướng đến cộng đồng yếu thế như trẻ em, phụ nữ, hay người khuyết tật, điều quan trọng nhất là đặt mình vào hoàn cảnh của họ. Hãy tự hỏi: “Nếu tôi ở vị trí đó, tôi có muốn được đối xử như vậy không?”. Chính từ việc đặt mình vào vị trí của người nhận, bạn sẽ hiểu rõ hơn điều gì nên làm và không nên làm. Đôi khi mình cứ làm mà không đặt mình vào hoàn cảnh của đối tượng muốn hỗ trợ nên cứ ép người ta “phải là như vậy”.

    Bên cạnh đó, tôi luôn khuyên các doanh nghiệp hay các bạn marketer rằng từ việc cảm thông, hiểu được vấn đề của người nhận thì các bạn phải đặt người nhận vào trung tâm của câu chuyện và nhìn nhận họ như những con người có giá trị và có tiếng nói riêng. Mọi thứ sẽ trở nên khác biệt.

    Thay vì đứng ở trung tâm, thương hiệu nên đứng sau câu chuyện, làm rõ được sức mạnh và giá trị sẵn có của những cộng đồng mà mình đang giúp đỡ.

    Để xây dựng một chiến dịch CSR có sức ảnh hưởng, thương hiệu cần làm nổi bật giá trị của cộng đồng mà mình hỗ trợ, thay vì chỉ tập trung vào hình ảnh của chính mình. Những đối tượng được hỗ trợ không phải là những người “nhận ơn”, mà là những nhân vật chính với tiềm năng lớn, chẳng qua hiện tại họ chưa đủ điều kiện hay vì một lý do nào đó nên cần sự giúp đỡ.

    Khi thương hiệu chuyển từ vai trò “người giúp đỡ” sang vai trò hỗ trợ, đồng hành một cách đầy tinh tế và cẩn trọng, chú ý và đầu tư, câu chuyện truyền thông sẽ trở nên nhân văn và chân thật hơn. Thay vì đứng ở trung tâm, thương hiệu nên đứng sau câu chuyện, làm rõ được sức mạnh và giá trị sẵn có của những cộng đồng đang giúp đỡ. Tôi tin rằng khi có thể làm được như vậy, thương hiệu sẽ giảm thiểu được rất nhiều những vấn đề liên quan đến khai thác lòng thương cảm.

    * Có thể thấy, các hoạt động truyền thông tạo tác động xã hội nếu làm không “khéo” sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro, vậy liệu có phương pháp để thương hiệu có thể quản lý rủi ro, hạn chế việc tạo tác động “ngược”, thưa chị?

    Tôi từng nghe một chia sẻ rất hay từ một người làm trong lĩnh vực ESG và tôi hoàn toàn đồng tình: Bản chất của ESG, phát triển bền vững hay bất kỳ hoạt động nào đều có cả cơ hội lẫn rủi ro. Ở đâu có cơ hội, ở đó cũng tiềm ẩn rủi ro.

    Khi nhìn CSR dưới góc độ branding, chúng ta nhìn thấy rất nhiều cơ hội. Rõ ràng, các chiến dịch vì xã hội thường mang lại hình ảnh đẹp, được truyền thông rộng rãi, giúp doanh nghiệp xây dựng thương hiệu. Tuy nhiên, ít ai nhắc đến rủi ro phía sau. Đo lường cơ hội có thể dễ, nhưng đo lường rủi ro lại rất khó. Đây cũng là một trong những trăn trở lớn khi tôi trao đổi với các doanh nghiệp.

    Nếu không hiểu rõ về bản chất của CSR, thương hiệu có thể vô tình tạo ra rủi ro khi thực hiện chiến dịch. Ví dụ, trên mạng xã hội, đã có không ít chiến dịch gặp phản ứng tiêu cực từ khán giả hoặc cộng đồng, nguyên nhân thường là do thiếu tầm nhìn dài hạn.

    Khi nhắc đến ESG, mục tiêu lớn nhất của các khuôn khổ này chính là quản lý rủi ro và tác động của doanh nghiệp lên môi trường, cộng đồng. Doanh nghiệp cần đặt câu hỏi trước khi triển khai bất kỳ hoạt động nào: Cơ hội là gì nếu chúng tôi làm tốt? Và rủi ro là gì nếu không đạt kỳ vọng? Đây là sự khác biệt rõ nét so với trước đây, khi doanh nghiệp chỉ tập trung vào cơ hội mà chưa thực sự cân nhắc đến các rủi ro tiềm ẩn.

    Để quản lý tốt rủi ro, các doanh nghiệp cần phải thận trọng và áp dụng những phương pháp phân tích kỹ lưỡng. Quay lại với phương pháp stakeholder mapping, bước này giúp doanh nghiệp hiểu được hoạt động của mình sẽ tác động đến những nhóm đối tượng nào và mong đợi thật sự của họ là gì. Từ đó, doanh nghiệp mới có thể dự đoán và phân tích được những rủi ro tiềm tàng, đồng thời xây dựng các biện pháp quản lý hoặc giảm thiểu rủi ro hiệu quả.

    * Cảm ơn chị vì những chia sẻ thú vị!

    (Theo Brands Vietnam)